31 tháng 7, 2012

BẰNG THẬT, GIẢ HAY DỎM: LIỆU CÓ KHÁC NHAU?

(TuanVietNam, 07/9/2011) - Ngày nào nạn hám danh, chạy chức, chạy quyền, tâm lý quá xem trọng bằng cấp mà đánh giá thấp năng lực thực... còn tồn tại thì ngày đó vấn nạn bằng giả, bằng dỏm luôn luôn có đất sống.
Xã hội ủ mầm và gây men?
Chưa bao giờ, bức tranh toàn cảnh về giáo dục tại Việt Nam hiện nay lại quá nhếch nhác đến vậy. Từ chuyện bằng giả, bằng dỏm, thậm chí bằng thật mà kiến thức “dỏm”, rồi mới đây là chất lượng đầu vào của đợt Tuyển sinh Đại học, Cao đẳng 2011 đã nói lên tất cả.
Với mức điểm chuẩn là 13, 14 điểm đã là quá thấp mà nhiều trường còn không tuyển đủ số lượng. Một số trường còn dùng “tấm bùa hộ mệnh” là điều 33 trong Quy chế tuyển sinh Cao đẳng, Đại học 2011 để vét cho đủ chỉ tiêu. Nhiều thí sinh chỉ đạt 7, 8 điểm (3 môn thi) vẫn nghiễm nhiên bước chân vào giảng đường đại học thì khỏi phải nói cũng biết chất lượng đầu ra sẽ như thế nào.
Mấy năm trở lại đây, báo chí nhiều lần nhắc đến thực trạng sử dụng bằng giả. Có thể nói rằng bằng giả đang xuất hiện tràn lan ở hầu hết các tỉnh thành, không có ngành nghề nào là ngoại lệ và ở mọi cấp bậc khác nhau. Đã từng có một vụ án liên quan đến 87 bằng giả tại Long An bị khởi tố. Bằng giả không còn là hiện tượng cá biệt mà trong xã hội, còn hình thành những đường dây, tổ chức mua bán bằng hẳn hoi.
Thậm chí, nạn mua bán bằng giả được rao bán đầy rẫy trên mạng và được mặc cả công khai giữa ban ngày. Thật không thể tin được khi một tấm bằng thạc sĩ được rao bán với giá chỉ có... 18 triệu đồng. Người mua sẽ nhận được tấm bằng danh giá ấy chỉ trong vài ngày, với lời hứa “giống thật 100%, bao đi công chứng” (?)
Không trắng trợn như mua bán, sử dụng bằng giả, một trào lưu mới cũng đang rất thịnh hành trong xã hội hiện nay là vấn nạn bằng dỏm. Người được cấp bằng dỏm thường chọn cách học ở một cơ sở liên kết đào tạo giữa một trường đại học “ma” nào đó ở nước ngoài với một cơ sở đào tạo trong nước.
Chỉ cần học trong 6 tháng, người ta đã có bằng tiến sĩ hay mang danh tốt nghiệp tiến sĩ của một trường đại học nước ngoài nhưng một chữ ngoại ngữ bẻ đôi không cần biết.
Sở dĩ vấn nạn bằng giả, bằng dỏm sinh sôi nảy nở đến chóng mặt bởi nó do những căn bệnh cố hữu của xã hội ủ mầm và gây men. Ngày nào nạn hám danh, chạy chức, chạy quyền, tâm lý quá xem trọng bằng cấp mà đánh giá thấp năng lực thực... còn tồn tại thì ngày đó vấn nạn bằng giả, bằng dỏm luôn luôn có đất sống.
Bất kỳ một sản phẩm gì khi đã là giả, là dỏm thì tất nhiên là đồ vứt đi, là thứ không thể sử dụng được và cần được lên án để kịp thời ngăn chặn, chứ không riêng gì tấm bằng tốt nghiệp đại học, cao học hoặc tiến sĩ.
Giả, dỏm và thật có khác nhau?
Tuy nhiên, khi nói đến những thứ hàng giả, hàng dỏm cũng cần phải xem xét những món hàng thật có đảm bảo chất lượng hay không? Nếu là hàng thật mà không có chất lượng hay chất lượng quá kém thì chẳng khác nào thứ hàng giả.
Lâu nay, tình trạng “đi thầy” hay “cống nộp” trước hay sau khi thi diễn ra rất phổ biến ở các trường đại học. Thậm chí cả ở các bậc học cao hơn như cao học hay nghiên cứu sinh vẫn không phải là ngoại lệ.
Một người bạn vừa mới nhận được tấm bằng thạc sĩ quản trị kinh doanh tại 1 trường đại học có uy tín ở TP.HCM “bật mí” cho người viết bài này, rằng cứ sau mỗi môn học, tùy theo tình trạng của kết quả làm bài thi mà người học quyết định “đi thầy” bao nhiêu.
Thường thì chỉ từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng cho mỗi môn và muốn có điểm cao thì môn nào cũng phải “cống nộp” đầy đủ. Người chịu trách nhiệm làm cầu nối giữa học viên và giảng viên thường là... lớp trưởng.
Đây là điều không quá bất ngờ khi người viết bài cũng đã từng kiểm tra kiến thức của rất nhiều bạn đã tốt nghiệp đại học hệ chính quy. Không ít bạn thể hiện rõ mình thiếu cả kiến thức chuyên môn lẫn những kiến thức xã hội. Đó là chưa kể đến các kỹ năng khác rất quan trọng như khả năng viết văn bản, khả năng trình bày, thuyết trình... cũng đều rất hạn chế.
Nhiều doanh nghiệp đã phải lên tiếng về thực trạng sinh viên ra trường nhưng kiến thức bị hổng nặng, phải đào tạo lại từ đầu. Đây quả thật là một gánh nặng cho xã hội mà nguyên nhân chính không ai khác, là do một nền giáo dục kém cỏi tạo ra.
Khi mặc cả việc mua bán bằng giả, người bán dám cam kết tấm bằng do họ làm ra “như thật”, có thể qua mặt được các cơ quan công chứng, chứng nhận giá trị tri thức của mỗi người trước khi bước ra xã hội. Nếu những cam kết này là đúng thì không biết có bao nhiêu người đã mang thứ tri thức giả đó để đánh lừa xã hội.
Rồi những người nắm trong tay những tấm bằng thật nhưng kiến thức lại trống rỗng thì sao? Chẳng phải họ cũng đang lừa dối xã hội và tự lừa dối chính mình đó hay sao?
Xem ra trong một môi trường giáo dục quá nhiều bất cập, nạn đào tạo tràn lan không thể kiểm soát được chất lượng đầu vào, đầu ra thì phân biệt bằng thật, bằng giả liệu có ích gì? Thật, giả hay dỏm gì đều cũng chứa đựng sự gian dối thì giá trị của tấm bằng có khác gì nhau?
Vấn nạn bằng giả, bẳng dỏm và bằng kém chất lượng sẽ chẳng bao giờ ngăn chặn được, nếu không thay đổi được chất lượng giáo dục, không thay đổi được nhận thức của xã hội về danh phận, chức quyền cũng như giá trị của tri thức.
Trần Minh Quân

HÀNH TRANG HÔN NHÂN

(Dân trí, 02/5/2011) - Đừng vội theo chàng về dinh nếu bạn chưa chuẩn bị tốt 5 yêu cầu dưới đây:
1. Chọn người đàn ông yêu thương mình
Làm quen, tìm hiểu là bước đầu tiên của hôn nhân. Phụ nữ không nên quá vội vàng trong tình cảm, cần thời gian tiếp xúc để hiểu rõ đối tác đồng thời trả lời câu hỏi “mình muốn một mẫu đàn ông như thế nào?”.
Phụ nữ lựa chọn nửa kia của mình cần tìm hiểu cả quá trình trưởng thành, bạn bè, sở thích, thái độ cư xử, cách xử lý công việc, ước mơ của anh ta. Cần một cái nhìn toàn diện để đánh giá. Người đàn ông có phẩm chất đạo đức tốt, có ý chí phấn đấu, mặc dù điều kiện hiện tại không tốt nhưng họ lại rất có tiềm năng. Một người đàn ông như vậy đáng để bạn lựa chọn.
Chọn người đàn ông yêu mình quan trọng hơn việc chọn người đàn ông mình yêu. Đàn ông luôn muốn là tay “thợ săn” cự phách, nếu phải trở thành “con mồi” cho nữ giới, họ dễ nảy sinh ác cảm, không thoải mái.
2. Học cách tôn trọng gia đình đối phương
Từ trước tới nay mối quan hệ mẹ chồng nàng dâu rất phức tạp, đó là quy luật của cuộc sống. Có nhiều người phụ nữ nói rằng quan hệ của họ với mẹ chồng rất tốt nhưng thực tế cho thấy mâu thuẫn giữa mẹ chồng nàng dâu luôn tồn tại. Người phụ nữ khi yêu người đàn ông cần học cách yêu thương các thành viên trong gia đình người đó. Một người phụ nữ thông minh sẽ biết cách đối xử tốt với gia đình chồng, tránh mâu thuẫn để có cuộc sống hạnh phúc, thoải mái hơn.
3. Học cách chấp nhận tính cách của người ấy
Yêu một người đàn ông có nghĩa là bạn chấp nhận tính cách của người đó, chấp nhận tất cả mọi thứ thuộc về họ. Mặc dù điều này đôi khi không hợp tình hợp lý nhưng bạn muốn thay đổi một người đàn ông thực sự là việc hết sức khó khăn. Một người phụ nữ theo chủ nghĩa hoàn mỹ sẽ luôn muốn người đàn ông làm đúng theo ý của họ. Điều này khiến đàn ông khó chịu, dễ nảy sinh mâu thuẫn. Một người đàn ông thực sự yêu bạn sẽ chủ động thay đổi bản thân mình. Còn muốn người đàn ông thay đổi tất cả để phù hợp với mình thì chỉ là mơ ước hão huyền mà thôi.
4. Thay đổi tính cách bản thân
Thực tế hôn nhân nhìn ở góc độ nào đó chính là sự từ bỏ cái tôi của cả hai phía để tìm ra tiếng nói chung giữa hai người. Nhưng điều này cũng không có nghĩa là bạn phải thay đổi tất cả để phù hợp với người đàn ông, chỉ cần thay đổi để có một cuộc hôn nhân hạnh phúc.
5. Biết cách xử lý công việc và gia đình
Thời gian yêu nhau rất đẹp còn hôn nhân đôi khi lại nhàm chán. Khi hôn lễ kết thúc, tình yêu sẽ rơi từ thiên đường xuống mặt đất, tất cả mọi điều lãng mạn đều thay thế bằng hiện thực cuộc sống.
Nếu chuẩn bị kết hôn, bạn phải học cách cân bằng giữa gia đình và công việc. Bởi người phụ nữ sau khi kết hôn phải lo cho gia đình, sinh con và nuôi dạy con cái, bên cạnh đó phải hoàn thành công việc cơ quan. Dù trong cuộc sống hiện đại, người đàn ông có thể chia sẻ công việc nhà với bạn, nhưng không có nghĩa bạn sẽ được rảnh rỗi như thời độc thân.
Hà Ngọc (Theo Lady)

NHÀ BÁC HỌC LÊ QUÝ ĐÔN (1726 - 1784)

Lê Quý Đôn nguyên là Lê Danh Phương, tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường, sinh ngày 02/8/1726, trong một gia đình khoa bảng; cha là tiến sĩ Lê Trọng Thứ, quê tại làng Diên Hà, trấn Sơn Nam Hạ, nay là thôn Phú Hiếu, xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Ngay từ nhỏ ông đã nổi tiếng thông minh, chăm học. Năm 14 tuổi, Lê Quý Đôn theo cha lên học ở kinh đô Thăng Long. Lúc ấy cậu bé 14 tuổi đã học xong toàn bộ sách kinh, sử của Nho gia. 18 tuổi, Lê Quý Đôn thi Hương đỗ Giải nguyên. 27 tuổi đỗ Hội nguyên, rồi đỗ Đình Nguyên Bảng nhãn. Sau khi đã đỗ đạt, Lê Quý Đôn được bổ làm quan và từng giữ nhiều chức vụ quan trọng của triều Lê - Trịnh, như: Hàn lâm thừa chỉ sung Toản tu quốc sử quán (năm 1754), Hàn lâm viện thị giảng (năm 1757), Đốc đồng xứ Kinh Bắc (năm 1764), Thị thư kiêm Tư nghiệp Quốc tử Giám (năm 1767), Tán lý quân vụ, Thị phó đô ngự sử (năm 1768), Công bộ hữu thị lang (năm 1769), Bồi tụng (Phó thủ tướng) (năm 1773), Lại bộ tả thị lang kiêm Tổng tài quốc sử quán (năm 1775), Hiệp trấn tham tán quân cơ Trấn phủ Thuận Hóa (năm 1776), Hiệp trấn Nghệ An (năm 1783), Công bộ thượng thư (năm 1784)...
Lê Quý Đôn mất ngày 01/5/1784 tại quê mẹ, làng Nguyên Xá, huyện Duy Tiên (nay thuộc Hà Nam). Thi hài ông được đưa về mai táng ở quê nhà.
Trong cuộc đời làm quan của Lê Quý Đôn, có mấy sự kiện sau có ảnh hưởng lớn đối với sự nghiệp trước tác, văn chương của ông. Đó là chuyện đi sứ Trung Quốc năm 1760 - 1762. Tại Yên Kinh (Bắc Kinh), Lê Quý Đôn gặp gỡ các sứ thần Triều Tiên, tiếp xúc với nhiều trí thức nổi tiếng của nhà Thanh, bàn lận với họ những vấn đề sử học, triết học... Học vấn sâu rộng của ông được các học giả Trung Quốc, Triều Tiên rất khâm phục. ở đây, Lê Quý Đôn có dịp đọc nhiều sách mới lạ, kể cả sách của người phương Tây nói về địa lý thế giới, về ngôn ngữ học, thủy văn học... Đó là các đợt Lê Quý Đôn đi công cán ở các vùng Sơn Nam, Tuyên Quang, Lạng Sơn những năm 1772, 1774, làm nhiệm vụ điều tra nỗi khổ của nhân dân cùng tệ tham nhũng, ăn hối lộ của quan lại, khám đạc ruộng đất các vùng ven biển bị địa chủ, cường hào địa phương man khai, trốn thuế... Chính nhờ quá trình đi nhiều, thấy nhiều, nghe nhiều, biết nhiều việc đời như vậy mà kiến thức Lê Quý Đôn trở nên phong phú vô cùng. Ông viết trong lời tựa sách Kiến văn tiểu lục: “Tôi vốn là người nông cạn, lúc còn bé thích chứa sách, lúc trưởng thành ra làm quan, xem lại sách đã chứa trong tủ, vâng theo lời dạy của cha, lại được giao du nhiều với các bậc hiền sĩ đại phu. Thêm vào đấy phụng mệnh làm việc công, bốn phương rong ruổi: mặt bắc sang sứ Trung Quốc, mặt tây bình định Trấn Ninh, mặt nam trấn thủ Thuận Quảng (Thuận Hóa, Quảng Nam). Đi tới đâu cũng để ý tìm tòi, làm việc gì mắt thấy tai nghe đều dùng bút ghi chép, lại phụ thêm lời bình luận sơ qua, giao cho tiểu đồng đựng vào túi sách”.
Ngoài đầu óc thông tuệ đặc biệt cộng với vốn sống lịch lãm và một nghị lực làm việc phi thường, phải kể đến thời đại mà Lê Quý Đôn sống. Và ông là đứa con đẻ, là sản phẩm của thời đại ấy kết tinh lại.
Lê Quý Đôn sống ở thế kỷ thứ XVIII, thời kỳ xã hội Việt Nam có nhiều biến động lớn. Trong lòng xã hội Việt Nam đầy mâu thuẫn khi ấy đang nảy sinh những mầm mống mới của thời kỳ kinh tế hàng hóa, thị trường trong nước mở rộng, thủ công nghiệp và thương nghiệp có cơ hội phát triển... Tình hình đó đã tác động mạnh mẽ tới đời sống văn hóa, tư tưởng, khoa học. Ở thế kỷ XVIII, xuất hiện nhiều tên tuổi rực rỡ như Đoàn Thị Điểm, Ngô Thì Sĩ, Nguyễn Gia Thiều, Đặng Trần Côn, Lê Hữu Trác... Đồng thời các tri thức văn hóa, khoa học của dân tộc được tích lũy hàng ngàn năm tới nay đã ở vào giai đoạn súc tích, tiến đến trình độ phải hệ thống, phân loại. Thực tế khách quan này đòi hỏi phải có những bộ óc bách khoa và Lê Quý Đôn với học vấn uyên bác của mình đã trở thành người “tập đại hành” mọi tri thức của thời đại. Có thể nói, toàn bộ những tri thức cao nhất ở thế kỷ thứ XVIII đều được bao quát vào trong các tác phẩm của Lê Quý Đôn. Tác phẩm của ông như cái mốc lớn đánh dấu thành tựu văn hóa của cả một thời đại với tất cả những ưu điểm cùng nhược điểm của nó.
Tác phẩm của Lê Quý Đôn thống kê có tới 40 bộ, bao gồm hàng trăm quyển, nhưng một số bị thất lạc. Những tác phẩm tiêu biểu của Lê Quý Đôn còn giữ được có thể kể ra như sau:
- Quần thư khảo biện, tác phẩm chứa đựng nhiều quan điểm triết học, lịch sử, chính trị được viết trước năm ông 30 tuổi.
- Vân đài loại ngữ, Lê Quý Đôn làm xong lúc ông 30 tuổi. Đây là một loại “bách khoa thư”, trong đó tập hợp các tri thức về triết học, khoa học, văn học... sắp xếp theo thứ tự: Vũ trụ luận, địa lý, điển lệ, chế độ, văn nghệ, ngôn ngữ, văn tự, sản vật tự nhiên, xã hội... Vân đài loại ngữ là bộ sách đạt tới trình độ phân loại, hệ thống hóa, khái quát hóa khá cao, đánh dấu một bước tiến bộ vượt bậc đối với nền khoa học Việt Nam thời phong kiến.
- Đại Việt thông sử (còn gọi là Lê triều thông sử), là bộ sử được viết theo thể ký truyện, chép sự việc theo từng loại, từng điều một cách hệ thống, bắt đầu từ Lê Thái Tổ đến Cung Hoàng, bao quát một thời gian hơn 100 năm của triều Lê, trong đó chứa đựng nhiều tài liệu mới mà các bộ sử khác không có, đặc biệt là về cuộc kháng chiến chống Minh.
- Kiến văn tiểu lục, là tập bút ký nói về lịch sử và văn hóa Việt Nam từ đời Trần đến đời Lê. Ông còn đề cập tới nhiều lĩnh vực thuộc chế độ các vương triều Lý, Trần, từ thành quách núi sông, đường xá, thuế má, phong tục tập quán, sản vật, mỏ đồng, mỏ bạc và cách khai thác cho tới các lĩnh vực thơ văn, sách vở...
- Phủ biên tạp lục, được viết trong thời gian Lê Quý Đôn làm Hiệp trấn Thuận Hóa. Nội dung ghi chép về tình hình xã hội đàng Trong từ thế kỷ XVIII trở về trước.
Công trình biên soạn lớn nhất của Lê Quý Đôn là bộ Toàn Việt thi lục 6 quyển, tuyển chọn 897 bài thơ của 73 tác giả từ thời Lý đến đời Lê Tương Dực (1509 - 1516). Lê Quý Đôn hoàn thành Toàn Việt thi lục năm 1768, dâng lên vua, được thưởng 20 lạng bạc.
Về sáng tác văn xuôi, theo Phan Huy Chú, Lê Quý Đôn có Quế Đường văn tập 4 quyển, nhưng sách này đã mất. Về sáng tác thơ, Lê Quý Đôn để lại có Quế Đường thi tập khoảng vài trăm bài làm ở trong nước và trong thời gian đi sứ Trung Quốc.
Nhận xét tổng quát về thơ Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú viết: “Ông là người học vấn rộng khắp, đặt bút thành văn. Cốt cách thơ trong sáng. Lời văn hồn nhiên..., không cần suy nghĩ mà trôi chảy dồi dào như sông dài biển cả, không chỗ nào không đạt tới, thật là phong cách đại gia”.
Quan niệm về thơ của Lê Quý Đôn được tổng hợp lại như sau: “Làm thơ có 3 điểm chính: một là tình, hai là cảnh, ba là việc. Tiếng sáo thiên nhiên kêu ở trong lòng mà động vào máy tình; thị giác tiếp xúc với ngoài, cảnh động vào ý, dựa cổ mà chứng kim, chép việc thuật chuyện, thu lãm lấy tinh thần... đại để không ngoài ba điểm ấy”.
Đây là những tiêu chuẩn về thơ mà Lê Quý Đôn đề ra cho quá trình sáng tác của mình. Đọc thơ Lê Quý Đôn, chúng ta thấy thơ ông thật phong phú đa dạng, sâu sắc về tư tưởng, nghệ thuật và để lại trong lòng ta những xúc động đẹp đẽ, sâu xa:
Thành cổ lộng
Thành hoang tường đổ đã bốn trăm năm
Dây dưa, dây đậu leo quấn xanh tốt.
Sóng biết đã rửa sạch nỗi hận cho vua Trần,
Cỏ xanh khó che lấp sự hổ thẹn của Mộc Thạnh.
Sau trận mưa bò vàng cầy bật gươm cũ,
Dưới trăng chim lạnh kêu bên lầu tàn.
Bờ cõi cần gì phải mở rộng mãi
Đời Nghiêu Thuấn xưa chỉ có chín châu thôi.