31 tháng 7, 2012

LÊ QUÝ ĐÔN NGHĨ VỀ NHÀ VĂN

Làm nên văn chương ấy là nhà văn. Giá trị cao thấp của tác phẩm tùy thuộc vào phẩm chất và tài năng của người sáng tạo. Một người có nhiều ý kiến về nội dung, hình thức và chức năng của văn chương như Lê Quý Đôn không thể không bàn về nhà văn là vì vậy. Trong mục “Văn nghệ” của “Vân đài loại ngữ”, Lê Quý Đôn đã nêu nhiều câu nói của cổ nhân và ý của bản thân bàn về người viết văn cùng con đường trau dồi nên tư chất nghệ sĩ ở họ. “Kiến văn tiểu lục” lại dành hẳn một chương - chương “Tài phẩm” - để chủ yếu trình bày những nhận xét của ông về phẩm hạnh và tài năng của các danh nho mà phần nhiều các văn nhân thi sĩ có tiếng trong lịch sử nước nhà.
Nói đến nhà văn, Lê Quý Đôn rất coi trọng cái tài. Ông viết: “Những người tài tình khoát đạt, thì ý khí thường cao, mắt trông thường xa rộng, không phải người tầm thường theo kịp được” (Điều 25 - Văn nghệ). Lời khẳng định không phải là vô căn cứ. Đọc sách xưa Lê Quý Đôn biết được bao bậc hiền tài trong lịch sử khiến ông cảm mến và khâm phục. ông cũng từng giao du đàm đạo với nhiều người tài cao trí rộng đương thời trong và ngoài nước. Sự nghiệp hiển hách của họ dù là lập công đức hay lập ngôn đều không tách rời tài ba nổi trội đôi khi được phủ bởi sắc màu có phần hư ảo của truyền thuyết và giai thoại. Lê Quý Đôn nồng nhiệt ca ngợi “tài ba hơn cả mọi người” của Thượng thư Nguyễn Thọ Xuân (Kiến văn tiểu lục - tr.462). Nhắc tới Lương Thế Vinh, ông không quên “sự thông minh hơn người” của Trạng Lường. Thường trời phú cho họ sự thông thái xem rộng nhớ lâu từ rất sớm. Nguyễn Dữ là một ví dụ. Tuy nhiên, tư chất ấy chỉ được phát huy trong sự trau dồi, học hỏi thường xuyên. Lê Quý Đôn sớm phát hiện ra mối liên hệ sâu xa giữa “tài cao” và “học rộng” và giữa “học rộng” với “thơ hay” (từ ông dùng để nhận xét sư Huyền Quang đời Trần và Nguyễn Đăng Cảo thời Hậu Lê). Có một sự thật mà hầu như ai cũng rõ là các nhà văn nhà thơ lớn trong quá khứ tthường là những bậc đại khoa. Họ là những người đọc nhiều biết rộng. Không như thế làm sao họ có thể tranh đua nơi trường ốc. Quyết định bậc cao thấp ở khoa trường là ở chỗ: “Thi thiên, phú bách, văn sách năm mươi” (Điều 48 - Văn nghệ). Đã đành đọc nhiều chưa đủ làm nên những áng danh văn còn lại mãi với đời. Lê Quý Đôn tán thành quan niệm của Ngô Lai: “Trong bụng không có được ba vạn quyển sách, trong mắt không có được núi sông kỳ lạ của thiên hạ, thì chưa chắc đã làm được văn” (Điều 20 - Văn nghệ). Phải am tường thực tế “núi sông kỳ lạ của thiên hạ” nữa! Và yêu cầu này đâu có thấp! Đường đời và đường học của chính Lê Quý Đôn đã chứng tỏ điều đó. Có điều, trong điều kiện đi lại khó khắn như thời trước thì việc học việc đọc có ý nghĩa thật lớn. Phải thâu thái tri thức của sách vở “luyện đúc lại cho mới” (lời Lê Quý Đôn) mới mong làm nên tài năng lớn. Rồi những thành công trong cuộc đọ sức ở khoa trường chính là biểu hiện rõ rệt tài năng ở người làm văn. Không lấy làm ngạc nhiên khi Lê Quý Đôn gắn tài năng văn chương “có thể nối dõi được gia phong” của Nguyễn Dữ với việc “thi đỗ hương cống, thi hội nhiều khoa trúng kì đệ tam” và nhất là việc “đỗ Tiến sĩ khoa Bính Thìn đời Hồng Đức” của nhà văn. Cũng theo hướng ấy, Lê Quý Đôn không quên nhắc tới việc đỗ “hương tiến” của Nguyễn Hàng, đỗ Tiến sĩ của Nguyễn Trực trước khi bàn đến tài văn thơ ở họ. “Kiến văn tiểu lục” ghi lại rất kỹ tài năng Nguyễn Bảo đỗ Tiến sĩ khoa Nhâm Thìn (1472) thời Hồng Đức. Nguyễn Trực khi đó làm Trung thư lệnh rất yêu thích văn chương Nguyễn Bảo bèn tìm đến gặp và nói: “Già này chấm văn kỳ đệ nhị, mãi sau được chấm bài của ông, về lời lẽ bài chiếu “Phục lập phó bi” (Dựng lại bia đổ) tài tình... Các sĩ tử không theo kịp được, già này nêu rõ ra là bài ấy đứng vào hàng văn kiệt tác. Từ nay về sau, nghĩa lý trong kinh sách Thánh hiền, kí thác vào ông cả...” (Kiến văn tiểu lục - tr.271-272). Thi cử xưa hầu như tập trung mọi thử thách đối với tài học. Tuy nhiên, anh hoa phải phát tiết ra ngoài trong mọi mối giao tiếp. Ghi chép các mẩu truyện phần nhiều là truyền miệng về các nhân vật nổi danh thời trước, Lê Quý Đôn rất chú trọng đến tài ứng khẩu. Họ đối đáp nhanh nhẹn, xuất khẩu thành câu thơ hay thành vế đối khéo, và thường tài ứng đáp nảy nở từ rất sớm. Ông kể về trí thông minh của Trần Quang Trạch và Lương Thế Vinh lúc họ còn rất trẻ. Lên 7 tuổi, Quang Trạch đã đối đáp lại câu: “Thất tuế thần đồng tử” (Trẻ bảy tuổi thần đồng) bằng một vế đối ngay ngắn lại rất có ý nghĩa: “Bát đại hoàng đế tôn” (Cháu tám đời hoàng đế). Người bạn của cha ông khen ngợi và tiên đoán sau này ông sẽ thành đạt, danh vọng sẽ to lớn. Quả ông đã đỗ đầu kì thi Hội và giữ chức quan không nhỏ trong bộ máy hành chính lúc bấy giờ. Một trong những người khiến Lê Quý Đôn dành nhiều ưu ái hơn cả là Trạng nguyên Lương Thế Vinh. Lúc ông 5, 6 tuổi nhà rất nghèo. Một lần cha mẹ đi vắng, thấy ông đang nặn đất bùn đùa nghịch với đám trẻ ngoài sân, chủ nợ hỏi: “Bố mẹ mày đi đâu?”. Ông cười mà không trả lời. Chủ nợ gặng hỏi thêm ông đành đáp: “Bố tôi đi giết một người sống, mẹ tôi đi cứu một người chết”. Chủ nợ sợ hãi nghi ngờ và đề nghị giải thích sẽ trừ nợ cho. Sau khi in tay chủ nợ vào đất nhão để làm tin, ông mới nói: “Bố tôi đi nhổ mạ, mẹ tôi đi cấy lúa”. Chủ nợ đành chịu thua trước sự thông minh khác thường của Trạng Lường.
Nhận ra những biểu hiện của tài năng, học giả họ Lê còn gắng lí giải sự hình thành và phát triển của tài năng nữa. Ông viết: “Bởi vì nhà Trần đãi ngộ sĩ phu rộng rãi mà không bó buộc, hòa nhã mà có lễ độ, cho nên nhân vật trong một thời có chí khí tự lập, hào hiệp cao siêu, vững vàng vượt ra ngoài thói thường, làm rạng rỡ trong sử sách, trên không hổ với trời, dưới không thẹn với đất” (Kiến văn tiểu lục - tr.258). Nhân tài bao giờ cũng là sản phẩm của một thời. Khi nhân tố chủ quan bắt gặp điều kiện khách quan, tài năng sẽ có dịp nảy nở. Mặt khách quan là môi trường không thể thiếu cho tài năng phát triển là vì thế. Dễ tán đồng với ý kiến sau của Lê Quý Đôn: “Vì thế trong đời không lo rằng không có nhân tài, chỉ lo không biết cách ngự giá mà thôi” (Kiến văn tiểu lục - tr.267). Tài năng cũng như dao sắc vậy: dao được rèn là để phục vụ con người và càng năng sử dụng nó càng bén nhạy. Ngoài điều kiện xã hội, điều kiện tự nhiên, đất trời sông núi cũng góp phần hun đúc nên tài năng. Lê Quý Đôn cho rằng: “Phương Nam về vị trí quẻ ly, về ngũ hành thuộc về hành hỏa... tinh hoa quang thái, bao hàm phát tiết, chung đúc ra nhân tài, có nhiều người đáng được để ý” (Kiến văn tiểu lục - tr.254). Nhìn chung là thế mà đi vào từng trường hợp cũng không khác. Lí giải “tài tứ chứa chan cách điệu tươi đẹp” trong văn chương của Phùng Khắc Khoan, Lê Quý Đôn đã nhận xét: “Như thế chả phải là được linh khí núi sông giúp đỡ đấy ư?” Cách xem xét nguồn gốc của tài năng như thế không mấy xa lạ với các học giả thời xưa. Nguyễn Mộng Tuân đời Lê trong bài minh ở từ đường thờ Trịnh Khả có câu: “Sóc sơn sa nga, Sóc thủy uyên van, dốc sinh dị nhân, hưu như Phủ, Thân” (Núi sóc chót vót, sông Sóc thăm thẳm, chung đúc sinh ra người đặc sắc, như ông Phủ, ông Thân). Và cũng như nhiều học giả thời đó, đôi khi Lê Quý Đôn quá nhấn mạnh tới các yếu tố tự nhiên nên rơi vào duy tâm thần bí. Chẳng hạn ông từng viết không một chút hoài nghi rằng: “Xem như thế, có thể biết được rằng, nguồn gốc phát phúc là ở tự nhiên, không thể dùng trí xảo hoặc thế lực mà cầu cạnh được” (Kiến văn tiểu lục - tr.462). Nghĩ thế thì làm sao có thể khuyến khích được sự trau dồi, rèn luyện của mỗi cá nhân để tạo nên những tài năng lớn cho dân tộc và nhân loại. Vậy mà có lúc chính ông đã tán đồng với quan niệm của Âu Dương Tu: “Ở đời, chưa có ai ít học hỏi, biếng nhác làm văn mà nổi tiếng văn hay” (Điều 24 - Văn nghệ). Lê Quý Đôn không khỏi tự mẫu thuẫn với mình.
Chú trọng tài, Lê Quý Đôn đồng thời đề cao đức. Tài cao mà đức mỏng đôi khi chỉ đem lại hiểm họa cho mình và cho người. Đấy là tài năng ở lĩnh vực khác. Nghệ thuật văn chương thì không thế. Một khi cả con người từ cái lớn nhất tới cái nhỏ nhất đều tham gia vào quá trình sáng tạo thì đức và tài ở người viết được hòa làm một để hướng tới thành công, tạo ra sức cảm hóa của tác phẩm. Người xưa nói: “Văn tức là người”, hàm theo nghĩa ấy. Dẫu không trực tiếp nói ra, Lê Quý Đôn có vẻ tán đồng với cách nói phổ biến này. Thiên “Tùng đàm” (truyện góp) của “Kiến văn tiểu lục” có kể lại câu chuyện xảy ra với Thượng thư Đàm Thận Huy. Học trò theo học ông rất đông. Một hôm vừa giảng xong thì gặp mưa, học trò phải lưu lại. Ông bèn ra vế đối rằng: “Vũ vô cương tỏa năng lưu khách” (Mưa không then khóa mà giữ được khách). Nguyễn Giản Thanh đối lại rằng: “Sắc bất ba đào dị nịch nhân” (Sắc không là phong ba mà dễ đắm người). Một học trò khác là Nguyễn Chiêu Huấn thì đối là: “Nguyệt hữu loan cung bất xạ nhân” (Trăng có vòng cung mà chẳng bắn người). Còn một học trò nữa thì đối lại rằng: “Phẩn bất uy quyền dị sử nhân” (Phân chẳng uy quyền mà dễ dọa người). Đàm Thận Huy bảo rằng: “Sau này Giản Thanh là người phóng đãng, Chiêu Huấn là người có lòng nhân, nhưng đều thành danh, còn học trò kia sau phú hào, nhưng là người bỉ ổi”. Sau Giản Thanh đỗ Trạng nguyên, Chiêu Huấn đỗ Bảng nhãn, còn người kai chỉ làm đến chức Hiến phó. Lê Quý Đôn kết luận: “Tính hạnh ba người hệt như lời thầy đã phê phán”.
Xem xét nhân cách của nhà văn không thể nhìn nhận một cách chung chung thoát ly hoàn cảnh xã hội và điều kiện sống của mỗi người. Có thể coi là minh mẫn khi Lê Quý Đôn đưa ra nhiều chuẩn mực khác nhau để đánh giá các nhà văn về mặt đạo đức. Thời bình khác, thời chiến khác. Sống ở trong nước khác sống ở nước ngoài. Ông ghi nhận “lòng nhớ nước cũ, nghĩ đến tổ tiên” của các danh nho nước ta có tài văn chương nhưng do tình cảnh đặc biệt phải sống xa Tổ quốc (Kiến văn tiểu lục - tr.255). Khi đất nước thanh bình, đức độ của người cầm bút, theo Lê Quý Đôn, thường bộc lộ ở thái độ trước cường quyền và bạo lực, trước danh vọng và lợi lộc. Thử thách thường xuyên và gay gắt. Không tí người phải hàng phục co rút vào cuộc sống tầm thường và ích kỷ. Ai giữ được và đứng vững thì quả là bậc anh hùng hiển hách không kém nơi chiến trận. Có dịp đi sâu tìm hiểu quan niệm của Lê Quý Đôn đối với họ, ta thường bắt gặp các từ “thanh cao”, “thanh liêm”, “cứng rắn”, “chí khí”, “quả cảm”... Chu Văn An, Nguyễn Thiên Tích, Bùi Cầm Hồ, Lý Tử Tấn, Nguyễn Thì Trung... được đánh giá như vậy trong thiên “Tài phẩm”.
“Thanh cao” là gì? Lê Quý Đôn quan niệm thật rành rọt. Mặt phải là: “Người sĩ thanh cao cư xử hợp điều nhân, nắm vững được điều nghĩa, trong bụng giữ vững đạo đức, lợi lộc không thể dụ dỗ được, uy thế không thể uy hiếp được, suốt cả mọi sự việc thiên hạ không một vật gì có thể làm chuyển động được trong lòng” (Kiến văn tiểu lục - tr.257). Còn đây là mặt trái: “Lời bàn luận sáng suốt bẵng đi, thói cầu cạnh mỗi ngày một thịnh, người có chức vụ ít giữ được phong độ thanh liêm nhún nhường, trong triều đình không nghe lời can gián, gặp có việc thì rụt rè ẩu tả, thấy lúc nguy thì bán nước để cầu thân, dầu người gọi là bậc danh nho cũng đều yên tâm nhận sủng vinh phi nghĩa, rồi nào thơ nào ca trao đổi khoe khoang tán tụng lẫn nhau” (Kiến văn tiểu lục - tr.259). Khi viết những dòng này, Lê Quý Đôn không ghìm được lòng mình nữa. Mặt tích cực được chủ yếu rút ra từ sử sách Trung Quốc, nhất là trong Kinh điển Nho gia. Tiêu chuẩn đạo lý của người quân tử in đậm trong những lời bàn luận của ông. Đó là “Dũng”, là “Nhân” đi liền với “Trí” của những người lí tưởng theo quan niệm của đạo Nho: “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Còn mặt phản diện thì sờ sờ ngay trước mặt ông. Hằng ngày, hằng giờ. Hãnh tiến và trơ tráo. Một người giàu tâm huyết với thời cuộc như ông không một phút yên lòng.
Khi vận nước lâm nguy thì cái đức của nhà văn lại bộc lộ chủ yếu ở thái độ đối với kẻ thù dân tộc, ở hành động xả thân vì dân vì nước. Một trong những tấm gương sáng ngời vào bậc nhất lịch sử là Nguyễn Trãi. Lê Quý Đôn viết không nhiều về vị anh hùng khai quốc họ Nguyễn nhưng những dòng viết ra chan chứa cảm thông và mến phục. Cái chính là rất công tâm. Về truyền thống dòng tộc, Lê Quý Đôn viết: “Nguyễn Trãi là cháu ngoại Chương Túc Hầu (tức Trần Nguyên Đán) nhà Trần, đỗ Tiến sĩ triều nhà Hồ, đã có sẵn thanh danh vị vọng”. Khi đánh giá công lao của Ức Trai, ông cho rằng “đứng vào bậc nhất trong một đời”. Lê Quý Đôn cũng tỏ ra thông cảm với bi kịch của nhân cách “từng bị đè nén mà không từng chịu khuất phục”. “Thật đáng thương xót!”. Lê Quý Đôn đã thốt lên như vậy khi nghĩ đến tấn thảm kịch có một không hai trong lịch sử dân tộc. Và để kết thúc những lời bàn về vị anh hùng đồng thời là nhà thơ nhà văn nổi tiếng một thời, ông đã khẳng định: “Công đức và sự nghiệp của Nguyễn Trãi là “ngàn năm không thể mai một được”” (Kiến văn tiểu lục - tr.265-266). Đó là những nhận xét cao nhất có thể có thể có được đối với một nhân vật lịch sử. Có người cho những lời ấy hoàn toàn gắn liền với mối thiện cảm dành cho các nhân vật thuộc vương triều mà ông hết lòng phụng sự. Nói tình cảm giai cấp có ảnh hưởng thì đúng. Còn nói nó hoàn toàn chi phối thì không đúng. “Kiến văn tiểu lục” cũng dành nhiều đoạn bàn về các công thần và con cháu công thần như Lê Niệm (cháu Thái úy Lê Lai), Lê Hoàng Dục (con Thái phó Lê Văn Linh). Có thể những tiêu chuẩn “đại trung” và “được triều đình đãi ngộ phi thường” (từ dùng của Lê Quý Đôn) còn bị giới hạn bởi tư tưởng chính thống, nhưng cái nhìn của ông nói chung là khách quan. Chẳng thế mà phần lớn các nhân vật lịch sử và văn chương được Lê Quý Đôn đề cao đến nay chúng ta vẫn ngưỡng mộ và tự hào.
Vậy là những ý kiến của học giả họ Lê về tài, đức của nhà văn dễ thấy còn phiến diện nhưng đa phần là xác đáng. Phiến diện là bởi ông không có ý định đi sâu bàn luận về nhà văn với tư cách là chủ thể sáng tạo như chúng ta ngày nay. Có lẽ, ông chỉ nhấn mạnh tới những biểu hiện của đức và tài mà bằng kinh nghiệm của bản thân ông cho là cần, thế thôi. Dù chưa thật đầy đủ, ta cũng nhận ra sự sáng suốt của Lê Quý Đôn nhất là trong quan niệm của mình, ông thường không tách rời tài ra khỏi đức. Ông hết lòng ca ngợi nhiều bậc tài cao đức lớn như: Nguyễn Trãi, Lý Tử Cấu, Nguyễn Hàng... Trong Điều 13 (Văn nghệ), Lê Quý Đôn còn nhận ra mối quan hệ nhân quả giữa tính khinh bạc của một nhà văn nào đó với mức độ học vấn ở họ. Ông không tán thành với ý kiến của Nhan Chi Thôi: “Từ xưa đến nay, các văn nhân phần nhiều mắc phải cái bệnh khinh bạc: nguyên là cái thể chất văn chương làm cho ý hứng của họ thì bay lên cao vút; tinh linh của họ thì phát lộ một cách bồng bột, mà trở thành kiêu căng, quên cả việc trì thủ (giữ gìn) và hăng hái tiến thủ”. Theo Lê Quý Đôn thì nếu một nhà văn nào tỏ ra kiêu ngạo tự mãn: “Đó là vì ít học vấn, thiếu hàm dưỡng; thành ra bị cái khí nó sai sử. Nếu ý hứng, tính linh vẫn giữ được bình đạm, một khi nêu lên, và phát ra, lại càng thấy ung dung”. Từ đó, ông đi đến kết luận: “Thể chất của văn chương vốn ở trong học vấn mà ra; học vấn có êm đềm (rộng rãi thoải mái), thì văn chương mới hay. Có lẽ đâu văn chương lại làm cho người ta kiêu căng!”. Lê Quý Đôn rõ ràng đã đi hơi xa khi đánh giá quá cao vai trò của học vấn đối với tài năng văn chương. Tuy nhiên trong thực tế thì người càng có tài lại càng khiêm tốn. Riêng ở điểm này ông hoàn toàn có lí.
Đức và tài làm nên giá trị của văn chương. Đó cũng là định hướng chính giúp Lê Quý Đôn tuyển chọn thơ văn cho các hợp tuyển.
Phạm Quang Trung

KIẾN VĂN TIỂU LỤC, LỜI KHUYÊN SỬA MÌNH CỦA LÊ QUÝ ĐÔN

“Kiến văn tiểu lục” là một tác phẩm được nhà bác học Lê Quý Đôn trước tác vào tháng 5, năm Đinh Dậu, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 38 (1777), gồm 9 mục, 12 quyển. Tác phẩm là một công trình sưu tầm, biên soạn và bình chú một cách thấu lí đạt tình, công phu từ những điều mắt thấy tai nghe khi Lê Quý Đôn ở trong nước và khi đi công cán ở nước ngoài.
Trong lời tựa, Lê Quý Đôn tâm sự: “Cái căn bản của lời nói và việc làm, cùng cái cốt yếu của sự học hỏi, có khi nào lại không bởi sự mắt thấy rộng, tai nghe nghe nhiều mà được chăng? Thế nên người nào hiểu biết được nhiều lời dạy hay và lời cách ngôn của cổ nhân, thì đem điều đó mà sửa mình, sẽ có thể nâng cao trình độ mình lên, bằng đem dùng ra đời, đời sẽ trở nên là đời tốt”. Lời tựa đã thể hiện tâm huyết của nhà bác học đối với sự hòan thiện con người. Việc sưu tầm và biên soạn của ông cũng không ngoài mục đích đó. Tác phẩm đưa ra nhiều vấn đề khác nhau, rất phong phú và sâu sắc. Ở đây, chúng ta chỉ có thể rút ra những lời khuyên thiết thực về đạo lí sửa mình của Lê Quý Đôn nói đến trong tác phẩm.
Bước khởi đầu của hành vi sửa mình là đọc sách. Mượn lời Vương Huy Chi, đời Tấn, Lê Quý Đôn mong muốn chúng ta đọc sách để làm điều lành: “Độc thư đắc nhất nghĩa, như hoạch nhất châu thuyền”. Khi đọc sách mà hiểu được một nghĩa, thì chẳng khác được cả một thuyền châu ngọc. Xem ra đọc sách là một việc khó, khó nhưng đem đến mối lợi tinh thần to lớn cho người đọc. Sách làm giàu hồn trí con người. Sách cung cấp kinh nghiệm sống, hàm dưỡng tính tình con người. Bởi sách chứa đựng kiến văn rộng lớn nằm ngoài cái nghe thấy của con người. Đọc sách là mở rộng, nâng cao những điều nghe thấy trong cuộc sống để nâng cao chính bản thân con người.
Đọc sách để học nói, biết nói trong ứng xử giao tiếp. Người ta ở đời họa phúc cũng do cái miệng mà ra. Lê Quý Đôn ghi: “Bệnh tòng khẩu nhập, họa tòng khẩu xuất”, nghĩa là thức ăn uống nuốt vào tự mồm mình. Nếu không biết dè dặt hoặc uống rượu quá độ hoặc ăn thịt quá nhiều, tất phải sinh bệnh. Thế là bệnh tự mồm vào. Lời nói phát ra cũng tự mồm mình. Nếu không giữ cẩn thận, gặp đâu nói đấy, nói càn nói bậy, rất có thể xẩy ra kiện cáo hoặc oán thù hoặc tù tội. Thế là vạ tự mồm ra.
Học nói là biết nói, trước khi nói phải suy nghĩ, trước khi nói phải uốn lưỡi bảy lần. Nên biết “Khẩu phúc bất tiết, trí bệnh chi do. Niệm lự bất chính, sát thân chi bản”. Sự ăn uống vào mồm vào bụng mà không biết giữ dè dặt, đó là cái mối sinh bệnh vậy! Trong lòng thường suy tính những điều không chính đáng, đó là cái gốc giết thân vậy! Gốc của ăn và nói là tính tình, là sự biết, là vốn văn hóa của con người. Cho nên, nói năng đúng mực, văn hóa là rất cần thiết trong giao tiếp và thiết lập quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người. Muốn thế trong lòng phải trong sáng, cần tránh những tạp niệm, những tính toán có lợi cho mình mà hại cho người.
Đọc sách để tăng cường vốn thấy vốn nghe, để học nói, học suy nghĩ, xét đến cùng là để sống đúng sống đẹp. Sống, trước hết là không bàn luận về người nếu có thì đúng nơi, đúng chỗ, đúng việc, đúng người. Không được như thế thì: “Hiếu nghị luận nhân trường đỏan thị phi, vi đạo ác”. Những kẻ hay bàn luận việc hay dở phải trái của người là đại ác. Tuy nhiên, lối sống tích cực không phải là cách sống bưng mắt, bịt tai, đậy miệng trước những gì chưa tốt, trước những cái xấu và cái ác. Sống là sống cho mình những cũng là sống cho người, cho nên cần có thái độ phê và tự phê nghiêm túc, thấu lí đạt tình. Lê Quý Đôn viết: “Nhân sở bất cập, đương dữ tình thứ. Kỷ sở bất túc, đương dĩ lý khiển” (Người ta có điều gì thiếu sót, ta nên lấy tình để tha thứ. Nếu chính mình có điều thiếu sót, thì nên lấy lý mà điều khiển).
Lấy tình mà khuyên người, lấy lý mà uốn nắn ta đó là đạo lý sống. Sống không thể như mũi dao nhọn. Sống là tu thân, lấy đức nhân làm cứu cánh cho mình. Bàn về vấn đề này, Lê Quý Đôn đã chép lời Trần Bạch Sa khuyên Hạ Khâm (đời Minh ở Trung Quốc): “Đắc vô phong nhận thái lộ hồ? Tu hàm dưỡng linh thâm trầm hòa bình, nãi vi mỹ nhĩ” (Tức là: Bác, có lẽ như mũi giáo nhọn quá lộ chăng? Phải hàm dưỡng cho được sâu kín hòa bình, thì mới tốt chứ). Hàm dưỡng mình là tu tâm, là một cách lập thân. Ngoài sự hòa nhã, tình cảm và thanh tĩnh, thì “Lập thân dĩ chí thành vi bản. Độc thư dĩ minh lý vi tiên” (Cách lập thân phải lấy sự rất thực làm gốc. Cách đọc sách nên lấy sự tỏ lẽ làm đầu). Sự rất thật phải chăng là không điêu trá, không giả hình, không cầu lợi cho mình? Và sự rất thật cũng có thể là: “Dũ thu liễm tắc dũ sung thác. Dũ tế mật tắc dũ quảng đại. Dũ thâm hậu tắc dũ cao minh” (Càng thu hẹp càng được mở rộng. Càng tế nhị càng được rộng lớn. Càng sâu dày càng được cao sáng).
Trên đây, chỉ là đôi điều rút ra từ lời khuyên trau mình chứ không phải giữ mình của Lê Quý Đôn trong “Kiến văn tiểu lục”. Có thể thời đại chúng ta đã khác, tâm lí, tư tưởng cũng đã khác, nhưng việc sửa mình cốt tủy vẫn không khác. Vả lại, “ôn cố nhi tri tân” là một việc làm cần thiết và không ngừng của mọi cá nhân, của mọi thế hệ.
Hoàng Dục

NHÀ VĂN HÓA LÊ QUÝ ĐÔN: ĐA ĐOAN NHẬP THẾ

Lê Quý Đôn có lẽ là một trong những trí tuệ uyên bác và thông tuệ nhất trong lịch sử thời phong kiến ở nước ta. Ông sinh năm 1726 và mất năm 1784. Nổi tiếng thần đồng từ nhỏ, sớm đỗ đạt cao, ra làm quan trải qua khá nhiều chức vụ trọng yếu trong những thời kỳ khác nhau nhưng Lê Quý Đôn vẫn dành rất nhiều tâm huyết và thời gian cho việc soạn sách và làm thơ. Ông đã hoàn thành trên dưới 50 công trình lớn nhỏ với hàng trăm cuốn sách (hiện nay còn lại khoảng một nửa số đó).
Khi đánh giá về ông, danh sĩ triều Nguyễn Phan Huy Chú đã viết trong “Lịch triều hiến chương loại chí”: “Ông tư chất khác người, thông minh hơn người... Bình sinh làm sách rất nhiều, khi bàn về kinh sử thì sâu sắc, rộng rãi; mà nói đến điển cố thì đầy đủ rõ ràng. Cái sở trường của ông vượt hơn cả, nổi tiếng ở trên đời”.
Tuy nhiên, cuộc đời của ông hoàn toàn không giản đơn mà luôn phải chịu những gập ghềnh và thị phi không chỉ bởi bia miệng mà cả ở những định kiến đã được chép vào sử sách.
Muốn ít, tức là được nhiều
Lê Quý Đôn là người cực kỳ ham mê đọc sách, không chỉ đơn giản để tiêu hết thời gian mà còn đào sâu suy nghĩ, dùng đó làm bảo bối trong khi nhập thế. Ngay từ nhỏ, ông đã học theo cách mà Vương Huy Chi nhà Tần bên Trung Quốc đã nói: “Đọc sách mà tìm được một nghĩa, cũng như được một thuyền hạt ngọc”.
Trong lời tựa “Kiến văn tiểu lục”, Lê Quý Đôn tâm sự một cách đầy khiêm nhường: “Tôi vốn là người nông cạn, lúc còn bé thích chứa sách, lúc trưởng thành ra làm quan, xem lại sách đã chứa trong tủ, vâng theo lời dạy lúc qua sân, lại được giao du với nhiều bậc hiền sĩ đại phu, thêm vào đấy phụng mệnh làm việc công, bốn phương rong ruổi: mặt Bắc sang sứ Trung Quốc, mặt Tây bình định Ai Lao, mặt Nam trấn thủ Thuận, Quảng, đi đến đâu cũng để ý tìm tòi, phàm việc gì mắt thấy tai nghe, đều dùng biết ghi chép, lại phụ thêm lời bình sơ qua, giao tiểu đồng đựng vào túi sách, lâu ngày tích tập, sau mới chép lại thành phiên...”.
Đọc nhiều, nghĩ nhiều, dần dà lượng đổi thành chất: “Càng thu lượm lẽ phải thì càng đầy đủ, càng tế nhị tư tưởng thì càng rộng lớn, càng sâu dày bao nhiêu thì càng cao sang bấy nhiêu...”. (Kiến văn tiểu lục)
Những lời vàng ý ngọc của các bậc hiền nhân rốt cuộc đã trở thành một phần cốt cách của Lê Quý Đôn. Cứ đọc những gì ông chép lại để cho đời sau là ta có thể hình dung ra được phần nào những nguyên tắc mà ông đã vin vào đó để “giữ vững lòng thành, thông suốt sự lý cả”. Cũng trong sách “Kiến văn tiểu lục”, ông đã chép lại những câu như sau:
“- Giữ đời sống bình thường không gì bằng tiêu dùng sẻn nhặt.
- Bồi dưỡng sinh lực không gì bằng ít dục tình.
- Sau khi uống rượu nên giữ gìn lời nói; đương lúc ăn nên ngậm lòng giận dỗi; nhịn những việc khó có thể nhịn được; hòa thuận với người không hòa thuận; ăn uống không có tiết độ là căn do mắc bệnh; tư tưởng không đúng đắn là nguồn gốc hại mình; bệnh tật từ miệng vào, họa hoạn từ miệng nói ra; nhún mình có thể theo được mọi người; hiếu thắng tất gặp địch thủ; bủn xỉn quá tất hao phí lớn, tích trữ nhiều tất mất mát to; cẩn thận thì không lo, nhẫn nại thì không nhục; tĩnh dưỡng thì thường được yên, sẻn nhặt thì thường được đủ.
- Nói nhiều, nhiều việc hỏng; việc nhiều, phải nghĩ nhiều; giữ được lòng giản dị thì lòng tự yên, biết được hạn định của mình thì lòng tự đầy đủ.
- Không để tâm bới vẽ sự việc thì không có việc gì bận rộn trong lòng, cho nên trong lòng tĩnh mịch thì sinh sáng suốt, trong lòng náo động thì sinh tối tăm.
- Người lái buôn gian dối làm rối loạn thị trường; người nông phu lười biếng làm hỏng cả ruộng đất; người độc phu tàn bạo làm nhiễu loạn cả nước; con ngựa ốm yếu làm nhơ nhuốc cả đàn.
- Làm giàu không sẻn nhặt, lúc nghèo phải hối hận; lúc thấy việc không học hỏi, lúc thi thố mới hối hận; lúc say nói dại dột, lúc tỉnh phải hối hận; lúc bình thường không nghỉ ngơi, lúc có bệnh mới hối hận.
- Người khinh suất lời nói, tất nhiên lời nói kém phần tin chắc; người tâng bốc thạo tất nhiên chê bai cũng thạo; việc không nên làm hết, quyền thế không nên dùng hết, lời nói không nên nói hết; phúc trạch không nên hưởng hết.
- Người nào nói ta xấu, đấy là thầy ta; người nào khen ta hay, đấy là thù địch của ta.
- Chỗ bất cập của người khác, ta nên lượng tình mà tha thứ; chỗ thiếu sót của ta, ta nên dùng lý lẽ mà nghiêm trách.
- Trong bụng cần phải từ bi, công việc cần phải phương tiện. Những sự tàn nhẫn khắc bạc, chỉ gây mối oán hận với người ngoài.
- Việc gì không can thiệp đến mình, dầu mảy may cũng không lý hội đến. Rượu ngon, sắc đẹp, của cải, tức khí, bốn điểm này cần phải kiêng kị, vì có thể làm hại đến bản thân”.
Trong “Kiến văn tiểu lục”, Lê Quý Đôn còn dẫn lời của Tôn Huệ nhà Tần: “Danh vị lớn không nên đeo lấy mãi, công việc lớn không nên gánh vác mãi, quyền thế lớn không nên giữ mãi, uy vọng lớn không nên bám lấy mãi”.
Theo ông, châm ngôn sau đây của cổ nhân cần được mỗi người trong chúng ta luôn để cạnh chỗ ngồi: “Uống rượu ít, ăn cháo nhiều; ăn rau nhiều, ăn thịt ít; ít khi mở miệng, nhiều khi nhắm mắt; chải đầu nhiều, tắm rửa ít; ít khi ở chung, nhiều khi nằm riêng; chứa nhiều sách cổ, ít chứa hạt ngọc; cầu danh ít, nhẫn nhục nhiều; làm điều lành nhiều, cầu lợi lộc ít”.
Những nguyên tắc này, ai bảo hôm nay không cần thiết cho mỗi chúng ta?
Mười phân khó vẹn
Những tài năng thường không bao giờ toại nguyện nhưng Lê Quý Đôn vẫn là một ông quan sinh ra gặp thời. Dẫu những năm tháng ông đã sống không phải là giai đoạn thịnh trị nhất trong lịch sử nước ta, nhưng phải nói rằng, ông đã gặp được những bề trên có mắt xanh là các chúa Trịnh.
Họ Trịnh đã tin dùng ông vào những chức vụ phải nói là trọng yếu trong triều. Và Lê Quý Đôn cũng đã rất tận tụy không chỉ với cơ nghiệp của họ Trịnh mà với cả những lợi ích của đất nước, của dân tộc, của những người dân lao động...
Ông có chí hướng: “Kẻ sĩ ra làm quan hành chính, có phải chỉ ung dung ở chốn miếu đường bàn bạc văn nhã hay tỏ ra đức vọng mà thôi đâu. Có khi phải tuần xét biên giới, mà phải chịu trách nhiệm một phương thì cũng phải nghĩ đến làm sao để vỗ về binh nông, dấy lợi trừ hại, tuyên bố những lời răn dạy, đổi dời phong tục, hết khả năng tâm lực mà làm điều chức phận nên làm...” (Phủ biên tạp lục). Lê Quý Đôn là ông quan thường dám nói thẳng cả những điều “sự thật mất lòng”.
Tháng 4/1756, chúa Trịnh Doanh sai ông dẫn đầu đoàn thanh tra công việc của quan lại ở các lộ miền Tây Nam. Hoàn thành nhiệm vụ, ông đã trình tâu những điều tai nghe mắt thấy rằng, viết theo sách “Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục”: “Các quan ở phủ, huyện, có bọn Nguyễn Duy Thuần thanh liêm, cần mẫn, bọn Trịnh Thụ tham nhũng thối nát, gồm 13 người, hoặc thăng hoặc truất khác nhau”. Chúa Trịnh Doanh đã nghe theo lời tâu của ông trừng trị thẳng tay các tham quan...
Tháng 9/1771, khi được chúa Trịnh Sâm bổ dụng làm Tả thị lang Bộ Công, quyền giữ chức Đô Ngự sử, Lê Quý Đôn đã ngay lập tức trình bày bốn việc (theo sách “Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục”):
- Cống sĩ thi hội trúng được kỳ đệ tam phần nhiều xin lạm sắc nội hoàng gia ơn, nhảy qua tư cách trao chức vượt bậc. Xin xét thực, bắt trở về bậc cũ.
- Hiến sát phó xứ và tham nghị là người có chuyên trách ở một địa phương, thế mà ít lâu nay những bọn cầu may để làm quan phần nhiều không do các quan trong triều đường bảo cử, chỉ lén lút cầu cạnh để được dự vào sự bổ dụng. Xin thu hồi lệnh trước, mà cho các quan trong triều đường bảo cử theo như lệ cũ.
- Đất bãi ở các lộ sai các quan chia nhau đi khám lại.
- Những dân xã ở các lộ, trước đây phụng mệnh được miễn trừ, gần đây vì chép lại sổ sách, rồi sinh ra sự thay đổi thêm bớt gian trá. Xin sai tín thần xét thực để chỉnh đốn lại cho đúng.
Chúa Trịnh Sâm cũng cho những điều mà Lê Quý Đôn tâu lên là phải lẽ cả nên lập tức hạ lệnh thi hành.
Tháng 7/1767, mấy tuần liền cả nước không có mưa, như thể bị trời phạt. Chúa Trịnh Sâm đã phải thân hành cầu đảo ở chùa Kính Thiên và đồng ý theo tờ khải của các quan trong kinh ngoài trấn, “lục dụng Lê Quý Đôn và Phan Cẩn để nâng đỡ người bị oan ức lâu ngày; rộng gia ơn về việc chuộc tội, cứu vớt dân xiêu lưu, để dân khỏi đau khổ. Như thế may ra mới có thể thu phục lòng người, và báo đáp được tội lỗi mà trời quở trách”, Lê Quý Đôn và Phan Cẩn đã thay mặt chúa đi điều tra về những điều dân uất ức, tha thuế tô cho những nơi bị thiệt hại vì thiên tai...
Nếu không được nhà Chúa tin tưởng về phẩm hạnh và lòng nhân, Lê Quý Đôn chắc chắn đã không được cử đi làm những trọng sự như vậy.
Tuy nhiên, cũng chính sự thẳng thắn và chính trực của một con người tài cao học rộng như Lê Quý Đôn đã khiến không ít bạn đồng liêu ghen tị, đố kị. Những kẻ lòng xe điếu rất khó hiểu cách hành xử của bậc cao nhân và họ thường bịa ra những lý giải tầm thường, vị kỷ nhất đối với những cử chỉ, quyết định trong sáng nhưng lắm khi không đơn giản một chiều của các cao nhân.
Tháng 6/1765, Lê Quý Đôn, khi đó đang là tham chính Hải Dương, vì muốn về quê nghỉ dưỡng sức đã viết lời giãi bày gửi lên chúa Trịnh Doanh: “Tôi mang cái thân sống sót ở muôn dặm trở về nước, mà nay xiêu giạt nơi giang hồ, xin cho tôi được về quê quán”.
Chúa Trịnh Doanh mặc dù rất trọng tài của Lê Quý Đôn nhưng trước cách lập luận hợp lẽ của ông cũng đã buộc phải bằng lòng cho ông về quê nghỉ. Chuyện tưởng cũng không có gì quá đặc biệt nhưng những kẻ ghen tài với Lê Quý Đôn lại cho rằng, ông xin nghỉ về quê chỉ vì cảm thấy mình không được đãi ngộ đúng mức.
Thậm chí trong sách “Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục” còn ghi lại lời bình đầy ác ý về chuyện này như sau: “Học rộng thì có làm gì, chỉ để giúp cho lòng tư của mình... Sở dĩ đến như thế, cũng là do kiến thức lệch lạc mà ra!”.
Sinh thời, Lê Quý Đôn đã không một lần phải chịu nhận những lời sàm tấu của quan lại đương thời lên nhà Chúa. Nhân một sự cố thi cử của con trai ông (Lê Quý Kiệt), ông đã bị vu chủ mưu cho con làm điều xằng bậy ở nơi lều chõng. Rồi ông còn bị đồn rằng đã “vụng trộm chiếm nơi cấm địa”, táng trộm mả tổ ở sơn phận Tản Viên.
Có người căm ghét ông quá còn dẫn cả lời Mạnh Tử về việc “Quan sát con ngươi của từng người, thì người gian người ngay không thể nào giấu giếm được” và kết luận: “Con ngươi của Lê Quý Đôn lúc nào cũng đưa đẩy lia lịa, nếu dùng người này vào chức cao cả tất nhiên làm tai hại cho nhân dân...” (?!). Cũng may là nhà Chúa không đến nỗi quá hồ đồ nên những lời lẽ đao to búa lớn gay gắt như thế đã không để lọt vào tai...
Lê Quý Đôn qua đời tháng 4 năm Giáp Thìn (1784) ở quê mẹ. Chúa Trịnh Khải đã tâu lên vua Lê Hiển Tông bãi triều trong ba ngày để tỏ lòng thương tiếc ông. Được phụng sự một nhà Chúa tri kỷ, âu cũng là may mắn của Lê Quý Đôn, dẫu quá nhiều điều ông biết có lợi cho dân, cho nước đã không thể nào thực hiện được trong điều kiện nước ta khi đó.
Đặng Đình Nguyên
Theo CAND.Com