13 tháng 6, 2019

TRIẾT LÝ TRONG "TÂY DU KÝ" (1986)


KỲ VII: VÌ SAO HẮC BẠCH VÔ THƯỜNG KÉO ĐƯỢC HỒN TÔN NGỘ KHÔNG XUỐNG ÂM PHỦ?
Chưa tu thành chính quả, chưa trường sinh, Tề Thiên Đại Thánh Tôn Ngộ Không cũng chỉ là con khỉ!
Sau khi được Bồ Đề Tổ Sư truyền dạy 72 phép Địa Sát, Tôn Ngộ Không làm huyên náo đạo quán đến mức Tổ Sư một mực đuổi đi và cấm không được nhắc đến tên thầy.
Xuống núi, Tôn Ngộ Không kết giao với nhiều bằng hữu trong đó có Ngưu Ma Vương.
Lấy được Định Hải Thần Châm, áo giáp quý ở Long cung, Tôn Ngộ Không về Hoa Quả Sơn vui vầy với “con cháu”. Trong lúc Hầu vương say ngủ đã bị Hắc Bạch Vô Thường bắt xuống âm phủ.
Khi nghe Hắc Bạch Vô Thường nói tuổi thọ đã hết và đến bắt đi, Hầu vương bèn nói: “Lão Tôn này đã vượt ra ngoài ba cõi, không còn ở trong Ngũ hành, đâu còn thuộc Diêm vương quản lí nữa. Cớ sao dám hồ đồ đến trói bắt ta?”.
Diêm Vương cất giọng: “Sinh linh vạn vật đều do ta quản lý. Ta muốn kẻ nào chết ở canh ba thì kẻ đó không sống được đến sáng”.
Hai quỷ câu hồn ấy cứ một mực lôi kéo Hầu vương đi, làm Hầu vương giận dữ, rút ngay bảo bối trong tai ra, vung lên đánh cho hai quỷ câu hồn nát như tương, rồi tự cởi trói, vác gậy quay vào đánh trong thành, các loại quỷ đầu trâu, mặt ngựa chạy trốn tán loạn. Không chỉ vậy, quá tức giận, Mỹ Hầu Vương đã đại náo âm phủ, xóa hết sổ sinh tử của loài khỉ.
Tôn Ngộ Không ngự trị 3 cõi nhân gian, tu được thuật trường sinh, lấy được Định Hải Thần Châm ở Long cung, khuấy đảo Thiên đình. Thần thánh, cao siêu vậy, tại sao Tôn Ngộ Không lại bị Hắc Bạch Vô Thường kéo được xuống âm phủ?
Suy cho cùng, thời điểm đại náo thiên cung, Tôn Ngộ Không thực chất cũng chỉ là một con khỉ bình thường, bản chất động vật, nhưng hơn giống loài là hắn biết Đạo pháp.
Chuyện Hắc Bạch Vô Thường bắt được âu cũng là lẽ bình thường.
Bởi bản tính ngông ngạo, có căn cơ nên Tôn Ngô Không ngông cuồng, không sợ Hắc Bạch Vô Thường đã đành, còn đánh họ chạy tán loạn.
Tuy nhiên, câu chuyện Hắc Bạch Vô Thường kéo hồn Tôn Ngộ Không xuống địa phủ thực chất là ẩn dụ cho câu chuyện người tu hành đắc Đạo.
Sinh tử xác thực là thuộc về quá trình mà người tu luyện phải vượt qua.
Thạch Hầu thiên tư cực cao, sở hữu năng lực thoát khỏi sự quản lý của các Thần tầng thứ thấp tại địa phủ, vượt qua sinh tử.
Thạch Hầu tiến bộ cực nhanh, ngay từ đầu đã đạt tới trình độ thoát khỏi sinh tử. Người tu luyện, chỉ cần có kiên trì và sức mạnh thân tâm thì việc thoát khỏi sự sinh tử cũng không phải là việc khó, nhưng đây mới chỉ là sự khởi đầu.
Đối với người tu đạo, sinh tử vốn không phải là sự trở ngại, “thị tử nhi quy” (coi cái chết tựa như sự trở về), thực ra bắt nguồn từ đó, chết không có gì là đáng sợ hết, tựa như về nhà giống nhau.
Tôn Ngộ Không dù sao cũng là Thái Ất kim tiên, việc từ âm phủ trở về nhân gian đơn giản trong chớp mắt phải chăng nói về lẽ đó?
Sẽ chẳng có chuyện gì nếu Tôn Khỉ chỉ là một con khỉ bình thường, một con khỉ không có cảm thức về cái chết như con người. Chỉ vì khao khát thuật trường sinh mà khỉ đá chấp nhận lênh đênh 12 năm trên biển để đến đạo quán của Bồ Đề Tổ Sư học đạo thuật trường sinh, đi ngược lại quy luật của thiên, cãi lại quy luật sinh - lão - bệnh - tử.
Thế nhưng, dù có học 72 thuật nhân tâm thì Tôn Ngộ Không cũng chỉ là một con yêu hầu không qua nổi vòng tử sinh, không thể thành tiên thành Phật và càng không thể trường sinh bất lão. Chỉ đến khi bị nhốt dưới Ngũ Hành Sơn 500 năm, trải qua 81 kiếp nạn mới đắc quả vị chân nhân đạt đến độ bất tử, bạch nhật phi thăng.
Hắc Bạch Vô Thường - kẻ mạnh có siêu lực áp giải hồn Tề Thiên Đại Thánh
Hắc Bạch Vô Thường trầm lặng chính là người hộ tống các linh hồn trở về địa ngục. Họ làm việc công chính, liêm minh, lạnh lùng, đúng người đúng tội nên còn là biểu tượng của công lý, lẽ phải.
Bạch Vô Thường hoạt bát, mặc áo bào trắng, đầu đội mũ cao, trên mặt vẽ hình con dơi đen trắng, tay cầm cái cùm hình con cá.
Hắc Vô Thường mặc đồ đen, đầu đội mũ tròn, mặt vẽ hình mắt đen trắng, tay cầm thẻ bài hình vuông, phía trên ghi “Thiện ác phân minh”.
Tương truyền, Bạch Vô Thường còn có tên khác là Phạm Vô Cứu, Hắc Vô Thường tên là Tạ Tất An, họ là đôi bạn rất thân cùng làm sai nha ở nha môn. Một hôm, hai ông đang trên đường đi công cán cho huyện lệnh thì đột nhiên trời đổ mưa rào. Tạ Tất An định vào nhà dân gần đó mượn lấy một chiếc ô. Ông bèn bảo Phạm Vô Cứu đợi dưới chân cầu. Khi Tạ Tất An vừa đi khỏi thì nước sông đột nhiên dâng cao. Phạm Vô Cứu vì sợ Tạ Tất An tìm không thấy mình, nên giữ đúng lời hẹn nhất quyết không chịu rời đi đến mức bị nước lũ cuốn trôi. Sau khi Tạ Tất An cầm ô tất tả chạy tới, phát hiện thấy người bạn thân đã bị nước nhấn chìm, ông vốn định nhảy sông tự tử dùng cái chết để tạ tội, nhưng do quá cao nên Tạ Tất An đành phải treo cổ lên dầm cầu. Ngọc Hoàng biết tình cảm sâu đậm của hai người, bèn sắc phong cho họ là Thần tướng, hầu hạ bên cạnh Diêm Vương chuyên bắt kẻ xấu.
Tương truyền Hắc Bạch Vô Thường chuyên đi tuần trên đường lúc đêm hôm khuya khoắt để bắt linh hồn những kẻ xấu tới âm tào địa phủ.
Tương truyền rằng tấm lòng Bạch Vô Thường rất lương thiện. Dẫu người khác có đắc tội ông cũng không để bụng. Còn Hắc Vô Thường thì lại rất nóng tính. Đó là do khi nước sông dâng lên cao quá đầu, cận kề cái chết, ông vẫn đang giãy giụa giữa con nước lớn nên sắc mặt chuyển thành màu đỏ đen, từ đó tính khí trở nên gắt gỏng, không chịu tha thứ cho người phạm tội.
Mỗi khi đi chơi hội chùa, trên người tượng Hắc Bạch Vô Thường có treo một xâu bánh gọi là “bánh cô độc”, nhiều người phụ nữ sẽ xin mang về cho trẻ nhỏ trong nhà của mình ăn. Nghe nói ăn rồi có thể khiến cho trẻ nhỏ bình an chóng lớn.
(PH sưu tầm và biên chỉnh)

TRIẾT LÝ TRONG "TÂY DU KÝ" 1986)


KỲ VI: TẠI SAO BỒ ĐỀ TỔ SƯ LẠI ĐUỔI TÔN NGỘ KHÔNG RA KHỎI ĐẠO QUÁN?
Sau khi tầm sư học đạo trên Linh Đài Phương Thốn, Tôn Ngộ Không được đích thân Bồ Đề Tổ Sư dạy 72 phép Thiên địa sát. Song cuối cùng Ngộ Không vẫn bị đuổi khỏi pháp trang. Là do Ngộ Không phạm sai lầm hay vì một nguyên do nào khác?
Trong lòng Bồ Đề Tổ Sư sớm đã chọn Ngộ Không là đệ tử chân truyền.
Tôn Ngộ Không là con khỉ đá thác sinh do Trời - Đất, được thiên địa hoá dục mà thành, vốn sinh ra đã mang sẵn tinh hoa của đất trời.
Bẩm sinh căn cơ tốt phi thường, sớm ngộ lẽ vô thường, tầm sư học Đạo. Lênh đênh trên biển lớn, cuối cùng Ngộ Không đến Linh Đài Phương Thốn theo học Bồ Đề Tổ Sư.
Bồ Đề Tổ Sư trong Tây Du Ký ẩn cư tại Tây Ngưu Hạ Châu, ở trong Linh Đài Phương Thốn sơn, Tà Nguyệt Tam Tinh động.
Linh Đài Phương Thốn sơn gọi tắt bằng chữ đầu và chữ cuối là “Linh sơn”, “Tà Nguyệt Tam Tinh” chính là vật trên thiên thượng, ám chỉ “bầu trời”. Hợp nhất chúng lại chính là: Thiên Thượng Linh Sơn.
Đến nơi, Tôn Ngộ Không nhìn thấy Bồ Đề Tổ Sư: “Ngồi ngay ngắn nghiêm trang trên bệ, ở phía dưới, hai bên có 30 tiểu tiên đứng hầu. Quả nhiên là: Kim tiên đại giác sạch ghê, Phương Tây diệu tướng Bồ Đề tổ Sư. Không sinh diệt, đức cao xa, Thần tròn khí vẹn rất là từ bi. Chân như bản tính an vi. Tự nhiên không tịch, tùy nghi biến dời. Trang nghiêm thọ sánh đất trời, Pháp sư muôn kiếp sáng ngời là đây”.
Bồ Đề Tổ Sư hỏi: “Nhà ngươi tên gì?”, Thạch Hầu nhanh miệng trả lời: “Con không có danh tính. Nếu người khác chửi con, con không thấy phiền não; nếu người khác đánh con, con cũng không tức giận; chỉ là lấy lễ đáp lại là được. Một đời không có tên”.
Chỉ một câu nói của con khỉ đá, Bồ Đề Tổ Sư đã phát hiện được căn cơ của Thạch Hầu, Bồ Đề Tổ Sư đã truyền dạy đạo pháp trường sinh cùng 72 phép biến hóa (Thất thập nhị huyền công - Địa Sát).
Tổ Sư Bồ Đề hẳn là cũng sớm biết được căn cơ của Hầu vương không tầm thường nên cũng đã cố ý đưa ra mấy thứ thuật loại tiểu đạo kia để thử lòng. Khi Ngộ Không từ chối không học, Tổ Sư cũng tỏ vẻ giận dữ vô cùng. Tây Du Ký kể rằng: “Tổ Sư nghe đoạn, hừ một tiếng, từ trên đài cao nhảy xuống, tay cầm gậy giới xích, chỉ vào Ngộ Không nói:
- Loài khỉ già kia, đạo này không học, đạo kia không học, còn đòi học cái gì?
Rồi đi đến gõ đầu Ngộ Không 3 cái, quay lưng giơ tay đi thẳng vào trong, đóng cửa giữa lại, bỏ mọi người ở ngoài”.
Bề ngoài thì là giận dữ, nhưng trong lòng Tổ Sư sớm đã chọn Ngộ Không là đệ tử chân truyền. Việc ông cho Ngộ Không mấy gậy “bổng hát” chính là điểm hóa mà trừ Hầu vương ra thì chẳng một ai có thể hiểu.
Bởi vì: “Lúc ấy cả bọn đều oán ghét và khinh bỉ Ngộ Không. Nhưng Ngộ Không chẳng tức giận, chỉ vui cười. Nguyên do Ngộ Không vốn đã ngầm hiểu ý của sư phụ, nên không tranh cãi với chúng bạn, chỉ lặng thinh không nói. Tổ sư đánh ba cái, có nghĩa là bảo phải để ý đến canh ba, chắp tay sau lưng, đi vào bên trong, đóng cửa giữa lại, rồi đi vào lối cửa sau, ở chỗ kín ấy sư phụ sẽ truyền đạo cho”.
Khi đặt tên cho Ngộ Không, Bồ Đề Tổ Sư đã xuất phát từ chữ “Tôn” trong “Hồ Tôn” nghĩa là khỉ. “Không” là cảnh giới cao nhất để đạt đến viên mãn, đắc đạo, là hoàn toàn vô niệm.           Chỉ khi đạt đến trạng thái “Không” này, người tu luyện mới có thể thực sự trở về với chân ngã và bản nguyên cao quý của chính mình.
Căn cơ phi phàm là thế, nên ngay từ khi vừa mới bước chân vào tu luyện, Ngộ Không đã có thể hiển tài năng hiếm có, đạt đến một tầng thứ rất cao, có thể làm náo động thiên cung mà không một vị thần tiên nào thu phục được.
Bị đuổi khỏi đạo quán và bí mật phía sau
Lại nói đến chuyện học của Tôn Ngộ Không, có vẻ Bồ Đề Tổ Sư sớm đoán được ý đồ của con khỉ ấy. Đạo gì không học nhất quyết muốn học đạo Trường sinh bất lão.
Tu luyện phép trường sinh ấy kỳ thực chính là thoát khỏi sự khống chế của Ngũ hành, cao hơn nữa chính là vượt ra ngoài Tam giới, không chịu vòng luân hồi, sinh tử để đạt đến quả vị của La Hán, Chân Nhân.
Sau khi được truyền dạy 72 phép thần thông cùng thuật Cân đẩu vân (cưỡi mây), Tôn Ngộ Không dương dương tự đắc biến hoá hết vật này sang vật nọ.
Bồ Đề Tổ Sư biết chuyện quát đuổi những người khác đi và gọi Ngộ Không tới quở phạt: “Ngộ Không, lại đây! Ta hỏi ngươi sử dụng tinh thần thế nào? Biến thế nào ra cây tùng? Công phu ấy có thể đùa cợt trước mặt mọi người sao? Giả sử ngươi thấy người khác có, ắt phải cầu người ta. Người khác thấy ngươi có, ắt phải cầu ngươi. Nếu ngươi sợ tai vạ, ắt phải truyền cho người ta. Nếu không truyền sẽ bị hại, tính mệnh nhà ngươi khó mà giữ nổi”.
Cuối cùng Tổ Sư bèn đuổi Ngộ Không đi, hơn thế, Tổ Sư còn bắt Ngộ Không thề rằng về sau có xảy ra chuyện gì cũng không được nói y là đệ tử của ông.
Có lẽ ẩn ý của một tiên nhân đắc đạo không phải tầm thường. 72 phép biến hoá thực chất là 72 tâm niệm của con người. Học thần phép là học về Tâm đạo, khiêm tốn.
Tôn Ngộ Không trổ phép thần thông vì sự kích tướng của đồng môn ấy là khoe mẽ, muốn được người khác nịnh bợ. Với người tu hành mà nói, đây là một loại tâm lý hết sức không tốt. Thực chất sự khoe khoang, cậy mình có tài, sau này ắt là chuốc vạ vào thân.
Tuy nhiên, Bồ Đề Tổ Sư đuổi Ngộ Không không phải vì giận, bởi vì vị cao nhân ấy sớm biết rõ tương lai của Tôn Ngộ Không gập ghềnh mà vinh quang. Bồ Đề Tổ Sư đoán trước được rằng: “Chuyến đi này, hẳn gặp điều không hay, nhà ngươi có gây vạ hành hung cũng không được nói là đồ đệ của ta”.
Sau này, quả nhiên Ngộ Không đã gây ra biết bao nhiêu chuyện kinh thiên động địa khiến bản thân bị giam cầm dưới núi Ngũ Hành 500 năm.
Đó đã là an bài từ trong số kiếp của y, mệnh trời khó cưỡng, Tổ Sư dù đoán được trước, song thiên cơ bất khả lộ. Bồ Đề Tổ Sư biết tên đồ đệ này có căn cơ lớn, mặc dù ương bướng gây họa nhưng tiềm ẩn cốt cách thăng Phật, có thể tu thành chính quả. Vậy nên, Bồ Đề Tổ Sư đuổi Ngộ Không đi chẳng qua chính là đặt nền móng cho Ngộ Không, tiễn biệt Ngộ Không trên đoạn đường học Đạo.
Việc Bồ Đề Tổ Sư dạy Ngộ Không 72 phép Địa Sát cũng là trang bị trước cho Ngộ Không chút “vốn liếng” trong cuộc vân du bốn biển dài đằng đẵng kia. Hơn nữa, Ngộ Không đã tu luyện thành Thái Ất Tiên, về cơ bản đã hoàn toàn khai ngộ trong môn của Tổ Sư Bồ Đề, giữ y lại trong núi cũng chẳng ích gì.
Đã học thành tài, ắt phải có đất dụng võ. Tổ Sư đuổi Ngộ Không, bề ngoài nhìn thì là trách phạt nặng nề, khai trừ khỏi sư môn nhưng thực chất là tạo cho y cơ hội lập thành công đức to lớn và tu luyện thêm một lần nữa trong Phật môn.
Con đường tu luyện của Ngộ Không là rất đặc biệt, đầu tiên là khai ngộ trong Đạo gia, sau đó lại tu đến cảnh giới Phật trong Phật môn. Thần Phật đã sớm an bài Ngộ Không là trợ thủ đắc lực phò Đường Tăng sang Tây Trúc thỉnh kinh.
Ngay cả chuyện yêu ma quỷ quái chặn đường cũng chỉ đơn giản là bài kiểm tra khảo nghiệm lòng kiên định của 4 thầy trò chứ hoàn toàn không dám phá hoại việc đi tìm con đường chân tu.

(PH sưu tầm và biên chỉnh)

TRIẾT LÝ TRONG "TÂY DU KÝ" (1986)


KỲ V: LÝ GIẢI NGUYÊN NHÂN KHIẾN TRƯ BÁT GIỚI MẠNH HƠN CẢ TÔN NGỘ KHÔNG
Nếu nhìn nhận một cách khách quan thì Trư Bát Giới mạnh hơn Tôn Ngộ Không về phép thuật, mặc dù số lượng phép của Lão Trư chỉ bằng một nửa Hầu huynh.
Trư Bát Giới kỳ thực là đối thủ đáng gờm của Tôn Ngộ Không
Trong suy nghĩ của nhiều người, Trư Bát Giới không những vô dụng mà còn rất biết cách ăn hại. Tuy nhiên, khách quan mà nói, Bát Giới chính là “thiên tài ẩn dật” nhưng vì lười nên không phô bày hết nội công của mình. So về phép, Trư Bát Giới khiến Tôn Ngộ Không kiêng nể vài phần vì mức độ nguy hiểm.
Kỳ thực, nội công của Lão Trư thuộc dạng cực kỳ thâm hậu, thậm chí 36 phép Thiên Cang của Ngộ Năng còn nguy hiểm hơn cả 72 phép Địa Sát của đại sư huynh Tôn Ngộ Không được Bồ Đề Tổ Sư truyền dạy.
Nguyên là Thiên Bồng Nguyên Soái chỉ huy hơn 8 vạn thuỷ binh ở thiên đình, Trư Bát Giới tu luyện thành thạo 36 phép Thiên cang của Đạo giáo.
Trong đó một số phép thuật khá “bá đạo” làm điên đảo trời đất, thậm chí cải tử hoàn sinh.
Trong trận chiến giữa Tôn Ngộ Không và Hồng Hài Nhi, Tôn Ngộ Không bị lửa Tam muội làm mê man bất tỉnh.
Tôn Ngộ Không mới thực là người thiếu thực tế, ham đánh nhau, ham danh hão ỷ là anh em với Ngưu Ma Vương mà chủ quan với tiểu yêu Hồng Hài Nhi.
Trong khi đó, Trư Bát Giới thực tế hơn nói rằng: “Ba năm chẳng tới sân, dầu quen cũng xa lạ, huống chi chuyện kết nghĩa cách 5, 6 trăm năm chẳng hề có thăm viếng mà nó chịu nhìn hay sao?”.
Hơn nữa, Trư Bát Giới biết rõ ngọn ngành về ngọn lửa Tam muội nên mới chạy còn Tôn Ngộ Không bị lửa suýt làm hỏng con mắt.
Khi Tôn Ngộ Không mê man bất tỉnh, chính Trư Bát Giới là người cứu sống bởi trong 36 phép Thiên Cang có thuật cứu sống người, đó là thuật Khởi tử hồi sinh. Nếu có thuật này trong tay thì người đó nhất định mạnh nhất cửu giới.
36 phép Thiên Cang của Trư Bát Giới gồm:
1. Oát toàn tạo hóa: Điều khiển trời đất, tạo ra một thế giới giả mà thật, chỉ những người có pháp thuật cao siêu mới luyện được chiêu này.
2. Điên đảo âm dương: Đảo lộn đất trời, thay đổi những lẽ thường của tự nhiên, khiến cho vạn vật di chuyển ngược lại với tạo hóa và thể hiện pháp lực cao thâm của các đạo gia.
3. Di tinh hoán đẩu: Có thể hoán đổi vạn vật trong vũ trụ cho nhau, từ Thần thánh, con người cho đến các loài thú vật hay quỷ quái, yêu ma.
4. Hồi thiên phản nhật: Đêm tối sẽ lập tức biến thành ban ngày.
5. Hoán vũ hô phong: Hô mưa gọi gió.
6. Chấn sơn hám địa: Bất cứ lúc nào cần cũng có thể dễ dàng tạo ra những cơn địa chấn.
7. Giá vụ đằng vân: Cưỡi mây.
8. Hoạch giang thành lục: Có thể biến một khu vườn hay một dòng sông thành bãi đất trống chỉ trong một tích tắc.
9. Phiên giang giảo hải: Có thể tạo ra những con sóng lớn khiến Long cung chao đảo, chính vì vậy, thuật pháp này là nỗi khiếp đảm của tất cả các Long Vương.
10. Chỉ địa thành cương: Chỉ tay hoá đá vạn vật.
11. Ngũ hành đại độn: Tự do xáo trộn Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.
12. Lục giáp kì môn: Đây là một chiêu thức thần bí khiến cho người sử dụng có sức mạnh phi thường trong quá trình chiến đấu.
13. Nghịch tri vị lai: Tiên tri.
14. Tiên sơn dịch thạch: Di chuyển núi đá.
15. Khởi tử hồi sinh: Cứu sống những người đang cận kề cái chết hoặc vừa mới chết.
16. Phi thân thác tích: Trong tình thế hiểm nguy có thể dễ dàng thoát thân ra bên ngoài và ẩn mình.
17. Cửu tức phục khí: Tập hợp linh khí của đất trời để điều trị các vết thương và nhanh chóng khôi phục lại trạng thái ban đầu.
18. Đạo xuất nguyên dương: Giúp phát huy hết tất cả nội công thâm hậu ra bên ngoài.
19. Hàng long phục hổ: Hàng phục thần thiên, yêu ma.
20. Bổ thiên dục nhật: Một thủ pháp giúp thực hiện những việc không tưởng và thay đổi thế vận.
21. Thôi sơn điền hải: Người thành thạo thuật pháp này có thể dễ dàng lên núi cao, xuống biển sâu.
22. Chỉ thạch thành kim: Biến giấy thành tiền, biến sỏi đá thành vàng bạc châu báu.
23. Chính lập vô ảnh: Tàng hình.
24. Thai hóa dị hình: Có thể biến một người lớn thành một đứa trẻ, trong vòng 7 ngày, đứa trẻ đó sẽ lớn lên, nhưng hình dáng bên ngoài không nhất định quay trở về trạng thái ban đầu.
25. Đại tiểu như ý: Biến người hoặc vật từ lớn thành bé, từ bé thành to chỉ trong vòng một nốt nhạc.
26. Hoa khai khoảnh khắc: Tạo khung cảnh ảo mộng.
27. Du thần ngự khí: Một thuật pháp cầu gọi thần linh.
28. Cách viên động kiến: Nhìn xuyên thấu vạn vật.
29. Hồi phong phản hỏa: Tạo ra sức mạnh thông qua sự kết hợp tuyệt vời giữa gió và lửa.
30. Chưởng ác ngũ lôi: Thuật Ngũ Lôi có nguồn gốc sâu xa và vô cùng phức tạp, là một thuật pháp có sức công phá vô cùng lớn.
31. Tiềm uyên súc địa: Di chuyển trog nước, thu hẹp khoảng cách ngàn dặm để kéo những vật ở nơi xa xôi về bên mình.
32. Phi sa tẩu thạch: Điều khiển gió, cát và sỏi đá làm vũ khí công kích đối phương.
33. Hiệp sơn siêu hải: Băng núi vượt sông trong nháy mắt.
34. Tát đậu thành binh: Chỉ cần ném một nhúm những hạt đậu bé xíu xuống đất, một đội quân cứu viện hùng hậu sẽ lập tức hiện ra.
35. Đinh đầu thất tiễn: Lời nguyền tước đoạt sinh mệnh của kẻ thù.
36. Tung địa kim quang: Di chuyển vạn dặm chỉ sau một cái chớp mắt.
Trư Bát Giới sở hữu phép thuật cao cường, song ít khi sử dụng hiệu quả trong chiến đấu là bởi nhân vật này quá kém thông minh, đồng thời cũng do bản tính luôn thích ăn chơi hưởng thụ chứ ít khi nghiêm túc chiến đấu hết sức.
Trư Bát Giới và con đường tu thành chính quả
Trong Tây Du Ký, Thiên Bồng Nguyên Soái bởi vì say rượu, đùa giỡn chọc ghẹo Hằng Nga nên đã bị Ngọc Hoàng trục xuất khỏi Thiên giới.
Trong lúc say, xuống cửa trần đầu thai, Thiên Bồng Nguyên Soái ngã nhầm vào cửa lợn, hóa kiếp thành con lợn ở dương gian.
Sau khi hạ phàm, Thiên Bồng Nguyên Soái nương thân ở động Vân Sạn, lấy tên là Chu Cương Liệt (Trư Cương Liệp). Về sau, Trư Cương Liệp được Bồ Tát giới hành, cắt đứt đi ngũ huân (5 thứ gia vị người tu hành không ăn) và tam yếm (3 loài kiêng không giết thịt). Về sau, Đường Tăng đặt cho cái tên là “Bát Giới”.
Quan Thế Âm Bồ Tát đặt tên cho Thiên Bồng Nguyên Soái là Trư Ngộ Năng triết tự là: Chữ “Trư” nghĩa là lợn, tượng trưng cho dục vọng của người tu luyện; còn chữ “Năng” nghĩa là tài năng, bản lĩnh, và khả năng. Trư Ngộ Năng có nghĩa là “con lợn (tái sinh) ngộ ra khả năng của mình” để ám chỉ việc Bát Giới luôn tự đánh giá mình quá cao mà quên mất mình mang một hình hài kinh khủng.
Cùng Đường Tăng đến Linh Sơn bái Phật cầu kinh, Trư Bát Giới từng chút từng chút hành “giới” và cuối cùng đã hoàn thành được 8 giới này.
Giới tham ăn
Bởi vì tham ăn nên trên đường đi lấy kinh, Bát Giới đã gặp rất nhiều phiền toái, vô cùng nguy hiểm. Nếu không có sự ngăn cản, trợ giúp kịp thời của Tôn Ngộ Không thì Trư Bát Giới sớm đã trở thành “món ngon” trong miệng bầy yêu quái.
Giới háo sắc
Khi bắt đầu bước trên hành trình đến Tây Thiên lấy kinh, Trư Bát Giới hễ nhìn thấy mỹ nữ thì không còn phân biệt được người hay yêu quái nên đã nhiều lần bị nguy hiểm.
Về sau này, Bồ Tát hóa phép tạo ra quan ải tình sắc khiến cho Trư Bát Giới dần ngộ ra, tính háo sắc này của Trư Bát Giới mới được giảm bớt đi.
Giới tham của
Trên đường đi lấy kinh, núi cao, nước sâu lại có vô vàn khổ nạn giữa đường. Mỗi khi gặp khó khăn, khổ nạn, Trư Bát Giới lại dễ dàng đòi rút lui, nửa đường bỏ cuộc, áng chừng phần của cải của mình trong đoàn rồi sau đó chạy lấy người.
Hơn nữa Lão Trư còn có tật “tắt mắt” thấy của lạ vô chủ là chẳng nghĩ chẳng rằng cho ngay vào túi. Thế mới có chuyện bị yêu quái Độc Giác Tỉ bắt đi gây nhiều phiền toái cho Tôn Ngộ Không giải cứu.
Trải qua nhiều kiếp nạn, dưới sự ra sức “mắng nhiếc” của Tôn Ngộ Không và lời khiển trách của Sa Tăng thì ý niệm phân chia tài sản trong đầu Trư Bát Giới mới dần dần mất đi.
Giới đố kỵ người tài
Không chỉ mang hình hài “nửa lợn, nửa người”, mà ở Bát Giới còn hội tụ đầy đủ nhân tâm và những thứ dục vọng của người thường, như lười biếng, tham ăn, háo sắc, lại hay ghen tị và thích đặt điều nói xấu huynh trưởng đồng môn.
Sư phụ Đường Tăng trong lòng ít nhiều cũng hiểu rõ tâm đố kỵ này của Trư Bát Giới, Ngộ Không và Ngộ Tĩnh nhiều lần tố giác, khiển trách đúng lúc mới khiến cho “âm mưu” của Trư Bát Giới lần lượt thất bại. Dần dần, Trư Bát Giới đã vượt qua được khuyết điểm lợi cho địch, hại cho bản thân này, khiến cho bản thân mình hoàn toàn dung nhập, hỗ trợ sư huynh, sư đệ hoàn thành sứ mệnh lấy kinh.
Giới giả dối
Trư Bát Giới đã có rất nhiều lần làm chuyện lừa gạt, dối trá. Đứng trước hành vi không tốt này, Tôn Ngộ Không đã nhiều lần sử dụng phép biến hóa của mình để kịp thời vạch trần và uốn nắn cho Trư Bát Giới. Điều này dần dần giúp Trư Bát Giới tỉnh ngộ.
Giới nhàn hạ
Khi Tôn Ngộ Không bị đuổi đi, Trư Bát Giới vì tham ngủ nên đã làm hại Đường Tăng bị yêu quái bắt vào huyệt động. Không những thế, nhiều lần trên đường đi xin đồ ăn, Trư Bát Giới lại trốn ở trong rừng cây ngủ ngon lành không màng thế sự.
Giới sợ khổ, sợ khó
Mỗi khi gặp khó khăn, khổ nạn, Trư Bát Giới lại dễ dàng đòi rút lui, nửa đường bỏ cuộc không muốn tiếp tục đi Linh Sơn bái Phật cầu kinh.
Những lúc ấy, sư phụ Đường Tăng, sư huynh Tôn Ngộ Không và sư đệ Sa Tăng đều ra sức khai thông, khuyến khích Trư Bát Giới.
Cuối cùng, Trư Bát Giới cũng cam tâm tình nguyện hết lòng hết sức cho sứ mệnh của mình và hoàn toàn thoát ra khỏi loại tâm sợ khó sợ khổ này.
Giới tham công lao
Cũng chính vì không giữ đạo hạnh, buông thả nhân tâm, nên Bát Giới khó có thể phát huy các thần thông vốn có của mình, lại thường hay thoái lui trong các cuộc trừ yêu diệt quái.
Nhưng Trư Bát Giới lại có tính tham công lao, luôn lấy công lao của người khác ghi tạc thành công lao của bản thân. Vì căn cơ kém cỏi nhất, nên yêu cầu dành cho Bát Giới chỉ dừng lại ở “Ngộ Năng” và “Bát Giới”, cũng tức là cần gìn giữ giới luật, tu chính nhân tâm, mới có thể bước vào hàng sa môn.

(PH sưu tầm và biên chỉnh)