6 tháng 8, 2012

VẤN ĐỀ NHÂN TÀI, HIỀN TÀI Ở NƯỚC TA

Trần Đăng Khoa: Trên trang Blog của mình, GS, TS, NGND Nguyễn Lân Dũng có giới thiệu bài viết: “Vấn đề nhân tài, hiền tài ở nước ta” của PGS, TS Trần Đình Huỳnh - nguyên Viện trưởng Viện Xây dựng Đảng. Đây là bài viết hay, rất hay, mặc dù vấn đề không phải là mới. Bởi nhiều người đã bàn rồi. Nhưng bàn một cách sâu sắc, thấu đáo, lại giàu sức thuyết phục thì vẫn chưa có ai hơn ông. Bởi thể, tôi xin phép GS, TS Nguyễn Lân Dũng và tác giả rước về đây, để hầu bà con và cũng mong có thêm người đọc. Tôi cũng chuyển bài viết này cho một số vị có trách nhiệm mà tôi quen biết, để các vị có thêm tài liệu tham khảo. Người tài bao giờ cũng hiếm. Nhưng thời nào cũng có người tài. Chỉ có điều chúng ta có biết dùng họ, có tạo điều kiện để cho họ xuất hiện hay không. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến các nhân tài và Bác cũng rất tài trong việc dùng người. Đây chính là mấu chốt quyết định sự thắng lợi của Cách mạng. Năm 1946, khi phải rời Tổ quốc, Người cũng lại trao toàn quyền điều hành đất nước cho cụ Huỳnh Thúc Kháng và chỉ dặn một câu: “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Với một nhà Nho uyên thâm như cụ Huỳnh, chỉ nói thế là đủ. Điều đáng ngạc nhiên, sao lúc ấy, tình thế rất phức tạp, thù trong, giặc ngoài, trong Chính phủ có bao nhiêu đảng viên cốt cán, Bác không trao, mà lại trao quyền điều hành đất nước cho một nhân sĩ không phải đảng viên là cụ Huỳnh Thúc Kháng? Đưa một người ngoài Đảng lên chức vụ lớn, lại trao cho cả vận mệnh đất nước là một quyết định táo bạo. Nhưng bằng lối ứng xử rất đẹp ấy, Bác đã quy tụ được tất cả những tinh hoa của dân tộc đến với cuộc kháng chiến cứu nước và kiến quốc. Bởi thế, rất nhiều nhân sĩ, trí thức, ở nhiều đảng phái khác nhau đều tìm đến với Người, có không ít người từ bỏ đời sống nhung lụa, trở về Tổ quốc, cùng đồng cam cộng khổ với Người. Những năm tháng cam go ấy, không có nhiều ban bệ, tư vấn, mà sao Bác dùng người chuẩn thế. Những cán bộ được Bác chọn, trao việc đều trở thành những nhân vật xuất sắc của lịch sử đất nước. Đến nay, GS Nguyễn Văn Huyên vẫn là ông Bộ trưởng tài nhất, sáng giá nhất của ngành Giáo dục. Dù ông Nguyễn Văn Huyên cũng không phải là đảng viên. Đặc biệt là việc chọn Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Nhiều lúc tôi cứ vân vi tự hỏi, bằng phép nhiệm màu nào mà Bác đã nhìn thấy khả năng thiên tài quân sự trong Võ Nguyên Giáp, một người chưa từng qua bất kỳ một khóa học quân sự nào? Lúc ấy, ông Giáp chỉ đơn thuần là một ông giáo dạy sử ở trường tư thục Thăng Long. Một con người hoàn toàn xa lạ với quân binh, trận mạc, vậy mà Bác lại trao cho việc phụ trách quân sự, rồi phong thẳng lên Đại tướng và ủy nhiệm cho toàn quyền quyết định việc quân: “Chú là Tướng biên ải, Tướng ngoài mặt trận, có gì cần thiết, chú cứ quyết rồi báo cáo Bác sau!”. Sau này, ta mới biết việc chọn Tướng Giáp của Bác tài tình đến như thế nào. Võ Nguyên Giáp quả là một thiên tài quân sự. Tên tuổi ông có thể đặt bên cạnh những tên tuổi lừng danh nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc: những Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt, Quang Trung... Vậy bằng cách nào Bác phát hiện được khả năng tiềm ẩn một Thiên tài quân sự trong dáng vẻ bạch diện thư sinh của một ông giáo dạy sử ở một trường phổ thông? Nhà báo nổi tiếng Mỹ Lady Boston kể lại rằng, có lần, mấy nhà báo Pháp cũng rất ngỡ ngàng hỏi Chủ tịch Hồ Chí Minh một câu hỏi khá hắc búa: “Thưa ngài Chủ tịch, ngài phong ông Giáp lên thẳng chức Đại tướng, là phong theo tiêu chí nào?”. Bác bảo: “Nước tôi là nước du kích. Chúng tôi đánh giặc theo lối du kích, thì phong hàm cũng là phong theo kiểu du kích. Ông Giáp của chúng tôi đã đánh thắng tất cả các ông tướng tài giỏi của nước Pháp, vậy thì ông ấy phải là Đại tướng thôi”.
Bây giờ, nhìn lại cách dùng người của chúng ta mà rùng mình. Một bà Yến đại biểu Quốc hội, một ông Dương Chí Dũng Cục trưởng Hàng hải, rồi còn bao nhiêu ông bà khác nữa đang làm băng hoại niềm tin của Dân vào Chính quyền và thể chế.
Vì thế, bài viết của PGS, TS Trần Đình Huỳnh là một tiếng nói kịp thời, sâu sắc, rất cần được tham khảo. Tôi trân trọng mời bạn đọc.
VẤN ĐỀ NHÂN TÀI, HIỀN TÀI Ở NƯỚC TA
PGS. TS Trần Đình Huỳnh
(Nguyên Viện trưởng Viện Xây dựng Đảng)
Vấn đề nhân tài đã được bàn thảo rất nhiều trong những năm gần đây. Do tầm quan trọng của nó mà đã có cả một đề tài khoa học độc lập cấp Nhà nước: “Cơ sở lý luận và thực tiễn của chiến lược quốc gia về nhân tài trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước” do một đồng chí tiến sĩ, Ủy viên Bộ Chính trị, đứng đầu ngành tổ chức, cán bộ làm chủ nhiệm. Gần như đồng thời với việc triển khai đề tài cấp Nhà nước nói trên thì Trung ương Hội khoa học phát triển nguồn Nhân lực - Nhân tài Việt Nam cũng đã tổ chức hội thảo quốc gia về đề tài “Nhân tài với thịnh suy đất nước” thu hút hàng trăm nhà khoa học có chuyên môn sâu và một số nhà hoạt động thực tiễn ở cả ba miền đất nước tham gia. Nhiều bình diện của vấn đề đã được các tác giả đầy tâm huyết nêu ra, nhưng hình như trong thực tiễn vấn đề nhân tài, hiền tài của nước ta hiện nay vẫn đang còn là một điều trăn trở không chỉ riêng ai, nó vẫn đang đòi hỏi phải tiếp tục bàn luận. Người viết bài nay chỉ xin nêu một vài thiển ý dưới góc nhìn của việc xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam.
1. Theo cách hiểu thông thường thì tài năng là những người có khả năng vượt trội, nổi bật ở một hay một vài lĩnh vực nào đó, đa phần họ được giáo dục đào tạo mà thành; số đông họ có bằng cấp học hàm, học vị nhất định, được coi là trí thức. Nhưng trên thực tế, xã hội lại không thể đồng nhất trí thức, người có bằng cấp với người có tài năng. Đó là làn ranh mà người làm công tác nhân sự tuyệt đối không được phép nhầm lẫn. Ngay như khái niệm nhân tài, theo nghĩa chữ Hán thì là người tài, nhưng trong tiếng Việt, khi dùng khái niệm nhân tài thì hình như cũng có ý khác với khái niệm người tài.
Cần hiểu tài năng của con người thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau tương ứng với các loại hình hoạt động và với các kiểu tư chất thông minh khác nhau. Ví dụ: có tài năng toán học, văn học, nghệ thuật (nghệ thuật lại có vô vàn tài năng ở các bộ môn khác nhau như múa, diễn xuất, hội họa, âm nhạc...), tài năng thể thao (thể thao lại có những tài năng rất khác nhau như đá bóng khác với cử tạ, bơi lội...), tài năng tư tưởng - triết học, tài năng quân sự, ngoại giao, tài năng kinh doanh, tài năng giáo dục... Do đó, mỗi kiểu tài năng hay từng cá nhân được coi là người có tài (hay nhân tài) có vai trò khác nhau trong hoạt động thực tiễn. Một người coi là có tài ở lĩnh vực này nhưng nếu đặt họ không đúng chỗ thì họ lại hóa ra người bình thường thậm chí là kém cỏi ở lĩnh vực khác. Điều này cho thấy trong công tác nhân sự không nên đặt cán bộ lãnh đạo, quản lý quá xa với năng lực, sở trường của họ. Trong xã hội, nhìn chung và phổ biến thì hầu như hiếm có những người toàn tài, toàn năng. Do vậy dù ở bất cứ tổ chức chính trị xã hội nào, ở bất cứ quốc gia nào, giả định được coi là gồm toàn những người có tài, toàn những người ưu tú lãnh đạo, thì cũng không bao giờ được mắc sai lầm là loại bỏ hay xa rời nguyên tắc dân chủ trong khi ra các quyết định. Lịch sử con người đã từng đau đớn là đã có thời kỳ dài lâm vào chế độ chuyên quyền độc đoán, là thịnh hành chế độ “quan chủ”.
Tài và đức cũng cần có sự phân biệt tương đối, chưa hẳn người có tài ở một lĩnh vực nào đó cũng đều có đức, còn người có đạo đức cũng chưa hẳn là người có tài. Hồ Chí Minh đã có sự phân biệt rõ: “Có tài phải có đức. Có tài không có đức, tham ô hủ hóa có hại cho nước. Có đức không có tài như ông bụt ngồi trong chùa, không giúp ích gì được cho ai” (Hồ Chí Minh toàn tập,T.8, H.1996, tr.184). Đây cũng là sự phân biệt quan trọng, rất cần thiết, mà những người làm công tác tổ chức nhân sự phải sáng suốt nhận biết để thấm nhuần phương pháp “dùng người như dùng gỗ” của Hồ Chí Minh. Khi sử dụng cán bộ cần xem xét cả tài và đức. Cái mà cách đây 66 năm, ngày 20/11/1946, Hồ Chủ tịch ra Chỉ thị tìm kiếm - và cho tới nay nhân dân ta, dân tộc ta cũng đang tiếp tục tìm kiếm - là “Tìm người tài đức” và cái khuyết điểm Chính phủ khi ấy mắc phải mà người đứng đầu đã công khai nhận lỗi, đến nay phải chăng vẫn là “nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bực tài đức không thể xuất thân”?
Hiền tài và nhân tài tuy đều là khái niệm chỉ người có tài cả thôi nhưng theo tôi thì nội hàm hai khái niệm này cũng lại rất khác nhau mà trong chính sách cán bộ cần có sự phân biệt. Hiền tài là khái niệm dùng để chỉ chung một tầng lớp người có cả tài năng và đức độ nổi trội, họ có tài năng xuất chúng, có đóng góp to lớn tạo nên bước ngoặt của phát triển, tiến bộ xã hội. Xưa nay, trong lĩnh vực chính trị, những người đứng đầu quốc gia hay chế độ nào có tài năng xuất chúng, có công với nước với dân, có đức độ và hành vi cao thượng cũng thường được lịch sử tôn vinh là người hiền tài, hay những bậc hiền minh. Trong chế độ phong kiến trước kia ở nước ta cũng đã từng có các vị vua được nhân dân muôn đời coi là bậc hiền tài, là các đấng minh quân; cũng có các quan lại một lòng trung trinh với nước, với dân đem hết tài năng ra phụng sự quốc gia, nêu gương sáng cho đời sau thì được coi là hiền thần; còn những kẻ gian manh, trụy lạc, ham mê tửu sắc, trù dập người tài, ưa kẻ phỉnh nịnh, tham nhũng... thì có là vua chúa hay quan lại thì cũng đều bị nhân dân coi là hôn quân, bạo chúa, hoặc là kẻ gian thần... Cũng có người có tài, đã có lúc lập được công trạng nhưng mưu vinh thân, phì gia hay bất lương tàn bạo thì được coi là kẻ gian hùng...
Hiền tài là sức sống, là mạch nguồn của dân tộc; họ là chỉ dấu về sự hưng vong của sơn hà xà tắc. Chính vì thế mà cha ông ta đã nói: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh rồi lên cao; nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xuống thấp”. Trong tình hình đất nước ta hiện nay đang đứng trước nhiều nguy cơ và thách thức thì việc suy nghĩ về chính sách chiêu hiền đãi sĩ, tìm người tài đức, “trọng dụng những kẻ hiền năng” (lời Hồ Chí Minh) chính là tìm về và nuôi dưỡng làm cho nguyên khí quốc gia tránh khỏi suy vi, làm cho thế nước mạnh lên, làm cho mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” không chỉ dừng ở khẩu hiệu kêu gọi hay niềm mơ ước xa vời.
Thiên tài là một đẳng cấp tài năng nổi trội, hiếm hoi, họ có đóng góp vô cùng to lớn vào lịch sử toàn nhân loại trên một hay vài lĩnh vực đỉnh cao mà lâu lắm, trăm năm, thậm chí nhiều thế kỷ mới có một người. Do nhiều lý do mà ở nước ta, kể từ ngày lập quốc cho tới ngày nay, dẫu nhân tài thời nào cũng có nhưng trong lĩnh vực triết học, toán học và khoa học tự nhiên, kinh tế, kỹ thuật... thì những đỉnh cao thật quá hiếm hoi. Do yêu cầu sống còn của mình mà mà trong lịch sử mấy ngàn năm nước ta đã xuất hiện một vài thiên tài trong lĩnh vực chính trị - quân sự được thế giới tôn vinh. Hồ Chí Minh là một trường hợp quá hiếm hoi ấy.
2. Nhân tài không phải ở trên trời rơi xuống, nhân tài cũng không phải từ đất dấy lên, mặc dầu điều kiện tự nhiên có phần tham dự không nhỏ. Môi trường xã hội giữ vai trò quyết định cho các nhân tài phát lộ và thể hiện. Hồ Chí Minh đã từng nói đại ý rằng, đảng viên tuy được lựa chọn cẩn thận, gồm đại bộ phận là những người ưu tú nhưng Đảng cũng ở trong xã hội, mỗi người khi đã là đảng viên, là cấp ủy, là lãnh đạo cấp cao thì không phải đã trở thành thánh ngay mà tất thảy, họ cũng đều ở trong xã hội, trong môi trường xã hội mà họ sinh thành, tồn tại, phát triển. Để có một đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý đất nước gồm những người có tài năng và đạo đức thì cần có một chiến lược lâu dài và hệ thống chính sách đồng bộ về đào tạo, nuôi dưỡng vun trồng, trọng dụng nhân tài cho đất nước. “Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” là với ý thức như vậy.
Kể từ sau khi thống nhất đất nước tới nay, nếu nhìn vào các Nghị quyết và Điều lệ của Đảng Cộng sản Việt Nam qua 7 kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc và của các văn bản pháp luật quy định tổ chức và hoạt động của Nhà nước từ cấp cơ sơ lên đến toàn quốc cùng với cách thức đã tiến hành bầu cử, ứng cử, tuyển chọn và bổ nhiệm cán bộ, công chức thì tưởng chừng như Đảng và Nhà nước ta đã thâu thái vào trong tổ chức của mình toàn những người có tài, có đức tương xứng với chức quyền, cấp bậc mà họ được giao phó, càng lên trên thì lại càng là những người được chọn lựa chặt chẽ trong số những người ưu tú, để trở thành bộ phận tinh túy nhất tiêu biểu của tài năng đất nước, như vậy hẳn có người phải xứng đáng được nhân dân tôn vinh là bậc hiền tài của thời hiện đại (?!). Nhưng trên thực tế thì không phải hoàn toàn như vậy. Ở đâu, ở cấp nào nhân dân cũng nhìn thấy sự suy thoái yếu kém và bất cập của bộ máy công quyền. Nhờ sự công khai, minh bạch do quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội, do sự phát triển của hệ thống thông tin, và do trải nghiệm của chính nhân dân với tư cách vừa là chủ nhân đất nước, vừa là đối tượng của các chủ thể lãnh đạo, quản lý quốc gia mà nhân dân, nhất là giới trẻ và trí thức có thực tài, thấy băn khoăn về việc thực thi chính sách đào tạo, thu hút và trọng dụng nhân tài của đất nước. Những yếu kém của đội ngũ lãnh đạo quản lý các cấp bộc lộ ra hàng ngày, ở tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; nạn tham nhũng, hối lộ, lãng phí của công, hành vi vô cảm bất nhẫn như một bệnh dịch lan tràn ra khắp nơi từ thôn cùng xóm vắng đến phố thị đông đúc, từ miền xuôi đến miền núi, từ học đường, bệnh viện đến công sở... làm nhức nhối lòng dân. Vì thế hầu như tất cả nhân dân - những người đang nặng lòng với vận mệnh của chế độ - đều đã đồng tình hưởng ứng Nghị quyết lần thứ 4 BCH Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (Khóa XI) là cần phải: (1) Ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. (2) Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là ở cấp trung ương, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. (3) Xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cấp ủy, chính quyền và mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị...
Trong 3 vấn đề trên thì vấn đề thứ nhất (ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống) là trọng tâm, xuyên suốt và cấp bách nhất.
Môi trường xã hội, đặc biệt là môi trường chính trị, cụ thể là môi trường sống và hoạt động trong các cơ quan công quyền, trong các công sở của hệ thống chính trị là tích hợp tất cả những điều kiện để tài năng, nhân tài xuất hiện, thể hiện mình và phát triển hoặc bị mai một, biến mất, thậm chí, nói theo cách của Hồ Chí Minh, là làm hủ hóa cả nhân tài.
Thực tế cho thấy rất khó khăn để có thể xuất hiện một nhà chính trị kiên cường không chỉ giữ cho mình trong sạch mà còn dũng cảm chống lại những thói hư tật xấu trong bộ máy công quyền mà chính họ là một thành viên trong bộ máy và cơ chế ấy. Thật khó để cho một nhà quản lý tài ba xoay xở được trong một thiết chế gồm không ít người chỉ chú tâm đến lợi ích cá nhân và lơi ích nhóm. Thật khó cho một sinh viên giỏi sau khi ra trường được nhận một công việc ở chính quê hương họ (dù cho họ rất nặng lòng với quê hương) nếu như họ không có thân tộc trong bộ máy tuyển dụng công chức hoặc không có tiền và biết cách chạy chọt. Sẽ khó cho một nghiên cứu sinh muốn có một luận án tiến sĩ được đánh giá cao bằng chính công sức lao động sáng tạo của mình trong một chế độ thi cử, đánh giá bị vẩn đục bởi sự chi phối của chủ nghĩa hình thức và sự ô uế của đồng tiền trong chế độ giáo dục đào tạo hiện hành. Sẽ khó cho việc thi tuyển cán bộ công chức, thậm chí là cả bầu cử nữa, thực sự công bằng, minh bạch, nếu còn có “tệ ấm tử ấm sinh” (Xin xem bài viết về tệ nạn này trên Tạp chí Xây dựng Đảng số năm 2012) và nạn ăn hối lộ. Đánh giá nghiêm túc và chính xác tình hình nói trên, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã ghi: “Việc đổi mới công tác cán bộ còn chậm; thiếu cơ chế, chính sách cụ thể để thực sự phát huy dân chủ trong công tác cán bộ, phát hiện và sử dụng người tài; chậm đổi mới cơ chế, phương pháp và quy trình đánh giá, bổ nhiệm, từ chức đối với cán bộ vẫn là khâu yếu. Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tội, chạy bằng cấp, huân chương chưa được khắc phục. Công tác cán bộ thiếu tầm nhìn xa. Chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thấp. Môi trường làm việc, chính sách cán bộ chưa tạo được động lực để khuyến khích, thu hút, phát huy năng lực, sự cống hiến của cán bộ; chưa cổ vũ ý chí phấn đấu vươn lên, sự gắn bó, tận tụy của cán bộ đối với công việc” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, tr.173-174)
3. Để khắc phục khuyết điểm nói trên thì không thể chỉ kiềm điểm, tự phê bình và phê bình, mặc dầu từ trước tới nay Đảng ta vẫn coi đó là quy luật của sự phát triển và là vũ khí đấu tranh trong nội bộ những người cùng chung một chí hướng với nhau, cùng tự giác thề rằng sẽ giữ khí tiết của người cộng sản là luôn vì nước quên thân, vì nhân dân phục vụ.
Để tự phê bình và phê bình không chỉ là hình thức mà thực sự có kết quả thực tế, tức là thực sự đó là vũ khí thì cần có nhận thức và cách làm khác (Xin xem thêm bài: “Để tự phê bình và phê bình thực sự là vũ khí” của Trần Ái Thanh, trên Tạp chí Xây dựng Đảng, số 4/2012).
Để cho vấn đề nhân tài thực sự là nguyên khí của quốc gia trong đời sống chính trị của đất nước hiện nay, trong phạm vi bài viết ngắn này chúng tôi chỉ xin góp một vài thiển ý sau đây:
Một là, cần có ngay một cơ chế thật dân chủ, tự do trong việc chuẩn bị cán bộ cho các cuôc bầu cử, ứng cử trong các Đại hội của Đảng từ cấp cơ sở đến Trung ương. Chúng tôi đã có bài viết riêng về vấn đề này ở bài trước (đăng trên Tạp chí Xây dựng Đảng số tháng 6/2012). Theo chúng tôi, đó là cách tốt nhất để chon nhân tài trong Đảng.
Hai là, cần thay thế quy chế giới thiệu người ra ứng cử vào các cơ quan dân cử (HĐND và Quốc hội) bấy lâu nay vẫn làm. Nên theo kinh nghiệm Hồ Chí Minh đã làm và thực tiễn đã có hiệu quả to lớn khi bầu cử Quốc hội để thành lập Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Khi ấy, nhiều cán bộ cao cấp của Đảng đã không tham gia ứng cử, không có chân trong Chính phủ dành để các nhân tài ngoài Đảng có cơ hội xuất thân. Trên thực tế, nhiều người ngoài Đảng đã rất xứng đáng nhận các trọng trách trong Chính phủ và Ủy ban Hành chính các cấp, và qua thực tiễn hoạt động đa phần họ đã có đóng góp to lớn trong thực thi nhiệm vụ. Theo cơ chế hiện nay thì cơ quan lãnh đạo, quản lý của Nhà nước các cấp gần như không có mấy người ngoài Đảng tham gia, mặc dầu tỷ lệ đảng viên so với dân cư là quá thấp. Trong bộ máy hành chính công quyền các cấp và cả trong các cơ quan quản lý chuyên môn nghiệp vụ cũng vậy, hầu hết người có chức vụ đều phải là đảng viên. Nếu như vậy thì tài năng ngoài Đảng khó có điều kiện tham gia và vô tình đã nuôi dưỡng động cơ vào Đảng của một số người là để thăng quan phát tài. Về vấn đề này chính Lênin đã nói rằng trong điều kiện Đảng chấp chính thì bọn cơ hội sẽ tìm cách chui vào Đảng để chiếm chỗ trong cơ quan Nhà nước nhằm “đục nước béo cò”. Cạnh tranh bình đẳng giữa đảng viên và người ngoài Đảng sẽ là cơ hội cho các nhân tài xuất thân. Đảng không nên bao cấp uy tín cho đảng viên trong các cuộc bầu cử cũng như thiên vị đảng viên khi bổ nhiệm các chức vụ trong bộ máy quản lý các cấp.
Dẫn theo Blog Lão Khoa, 25/6/2012

NHÂN KỶ NIỆM 122 NĂM NGÀY SINH CỦA HỒ CHỦ TỊCH (19/5/1890 - 19/5/2012)

GS, TS, NGND Nguyễn Lân Dũng
Bác Hồ là một nhà duy vật. Bác không theo tôn giáo nào nhưng hết sức coi trọng tôn giáo và tín ngưỡng của nhân loại. Bác đã viết: “Tín đồ Phật giáo tin ở Phật, tín đồ Giatô tin ở đức Chúa Trời; cũng như nhiều người chúng ta tin ở đạo Khổng. Đó là những vị chí tôn nên chúng ta tin tưởng” (Hồ Chí Minh toàn tập, T.4, tr.148) Bác đánh giá Khổng Tử, chúa Jesus, Karl Marx, Tôn Dật Tiên đều có những điểm chung: “Họ đều muốn mưu cầu hạnh phúc cho nhân loại, mưu lợi cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết... Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy” (Trương Niệm Thức: Hồ Chí Minh truyện, NXB Tam Liên, Thượng Hải, 1949, trang 91). Chỉ cách một ngày sau khi đọc Tuyên ngôn Độc lập ở Quảng trường Ba Đình, ngày 03/9/1945 khi đề ra những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chủ tịch đã nêu 6 vấn đề cấp bách hơn cả, trong đó có vấn đề thứ sáu, vì thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào Giáo và Lương, để thống trị: “Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: Tín ngưỡng tự do và Lương Giáo đoàn kết”. Bác căn dặn: “Lương giáo đoàn kết, toàn dân đoàn kết, cả nước một lòng, nhân dân ta nhất định sẽ thắng lợi trong công cuộc đấu tranh thực hiện hòa bình, thống nhất Tổ quốc, và xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh”.
Vào ngày 16/10/1945 tại chùa Quán Sứ, trước sự hiện diện của đại biểu Phật giáo và Công giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Mặc dù hai tôn giáo là hai lý tưởng khác nhau, nhưng tôn giáo nào cũng từ bi nhân đạo mà ra, thì không lý gì, lúc này cũng là con dân Việt Nam, lại không thể đoàn kết giữa hai tôn giáo được”. Cuối năm 1945, Hồ Chí Minh nói rõ quan điểm của mình là không phân biệt nghĩa vụ và quyền lợi công dân vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo. Mọi công dân đều có quyền ứng cử và bầu cử vào Quốc hội, Người nói: “Không chia gái trai, giàu nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp, đảng phái”, miễn là “người có tài, có đức, để gánh vác công việc nước nhà”. Linh mục Phạm Bá Trực đã trở thành vị Phó Chủ tịch Quốc hội mà sau này trong lời điếu buổi an táng cụ, Hồ Chí Minh đã vô cùng thương tiếc về “một nhà tận tụy yêu nước” đã “kết hợp đạo đức bác ái theo lời Chúa dạy với tinh thần nồng nàn yêu nước của người đại biểu chân chính cho nhân dân Việt Nam”. Trong bức thư gửi cho đồng bào Công giáo nhân dịp lễ Nôen năm 1945, Bác đã viết: “Cách một nghìn chín trăm bốn mươi nhăm năm trước, cũng ngày hôm nay một vị thánh nhân là Đức Chúa Giêsu ra đời. Suốt đời Ngài chỉ hi sinh phấn đấu cho tự do, cho dân chủ. Từ ngày Ngài giáng sinh đến nay đã gần 2.000 năm, nhưng tinh thần nhân ái của Ngài chẳng những không phai nhạt mà tỏa ra đã khắp, thấm vào sâu”. Bác còn nói: “Chúa cũng dạy giúp đỡ người nghèo, chống bóc lột, giữ gìn hoà bình, chống chiến tranh, mục đích cao cả của Chúa Giêsu đều muốn mọi người có cơm ăn, áo mặc, bình đẳng tự do và thế giới đại đồng”. Trong bức thư gửi các giám mục và đồng bào công giáo Vinh, Hà Tĩnh, Quảng Bình, ngày 14/10/1945, Bác đã viết: “Đức Giêsu hi sinh vì muốn loài người được tự do hạnh phúc, đồng bào ta cả lương cả giáo cũng vì tự do hạnh phúc cho toàn dân mà hi sinh phấn đấu”.
Tháng 01/1946 tại buổi lễ của các Phật tử cầu nguyện cho nền độc lập của nước nhà, Bác đã nói: “Trước Phật đài tôn nghiêm, trước quốc dân đồng bào có mặt tại đây, tôi xin thề hi sinh đem thân phấn đấu để giữ vững nền độc lập cho Tổ quốc” (Sđd, T.4, tr.148).
Có lẽ ít ai nghĩ được như vậy về các đức tin khác nhau. Bác đã lọc ra những tín ngưỡng mà số đông dân chúng thường chấp nhận để nói đến bằng lòng tin của chính mình. Bác chắc chắn không tin vào cuộc sống thứ hai của mỗi người sau cái chết, nhưng Bác đã tôn trọng niềm tin của nhân dân về sự trường tồn của linh hồn. Trong 12 tập Hồ Chí Minh toàn tập, có thể tìm thấy Bác đã 45 lần dùng từ “linh hồn”, 9 lần dùng từ “thiên đường”, 7 lần dùng từ “phù hộ”, 5 lần nhắc đến “Thượng đế”... Bác nói: “Mục tiêu cao cả của Phật Thích Ca và Chúa Giêsu đều giống nhau: Thích Ca và Giêsu đều muốn mọi người có cơm ăn, áo mặc, bình đẳng, tự do và thế giới đại đồng”. Người đã kế thừa rất nhiều các khái niệm, phạm trù của đạo đức tôn giáo đối với giáo dục con người, nhất là giáo dục xây dựng đạo đức cho đội ngũ cán bộ cách mạng.
Tháng 10/1946 sau khi đi Pháp về Bác đã nói: “Tôi kính cẩn cúi đầu trước linh hồn các liệt sĩ” (Sđd, T.4, tr.419). Nhân dịp lễ Giáng Sinh năm 1946, Bác đã viết: “Nhân dịp này, tôi thay mặt Chính phủ và quốc dân trân trọng chúc phúc toàn thể đồng bào công giáo. Đồng thời tôi kính cẩn cầu Đức Thượng đế phù hộ dân tộc Việt Nam và giúp cho Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng” (Sđd, T.4, tr.490). Ngay ông Giăng Xanh-tơ-ny (Jean Sainteny) cũng phải thừa nhận: “Về phần tôi, phải nói rằng, chưa bao giờ tôi có cớ để nhận thấy nơi các chương trình của cụ Hồ Chí Minh một dấu vết nào, dầu rất nhỏ của sự công kích, đa nghi hoặc chế giễu một tôn giáo nào bất kì”.
Ngày 21/01/1947 (Giao thừa 30 Tết), Bác đến hang núi Chùa Trầm, đọc thơ chúc Tết và kêu gọi đồng bào kháng chiến. Ngày 13/7/1966, Bác lại về chùa này và căn dặn: “Các chú phải tôn trọng tín ngưỡng của nhân dân... giữ gìn, bảo quản để mai sau đất nước hòa bình làm nơi tham quan rất tốt...”.
Trong chuyến thăm đất nước khai sinh ra Phật giáo, Tổng thống Ấn Độ đã tặng Bác cây Bồ Đề nơi Đức Phật tọa thiền và thành đạo. Người đem về nước và cho trồng tại chùa Trấn Quốc, ngôi chùa linh thiêng bậc nhất ở Thủ đô Hà Nội. Ngày 19/5/1958, Bác đến chùa Hương thành tâm kính lễ Phật Bà Quán Thế Âm và không quên nhắc nhở chính quyền phải bảo vệ, xây dựng chùa ngày càng đẹp hơn để nhân dân đến lễ Phật. Bác đã từng đến những nơi thờ tự ở Hà Nội như: chùa Hương, chùa Một Cột, chùa Quán Sứ, chùa Thầy, chùa Trầm, đền Ngọc Sơn, thành Cổ Loa, ngoài ra Người còn đến chùa Côn Sơn, đền Hùng, đền Kiếp Bạc,... thành kính thắp hương ghi ơn những tiền nhân lịch sử văn hóa của dân tộc.
Trong lớp Chỉnh huấn cán bộ trí thức, tổ chức từ ngày 15/7 - 26/9/1953, Người đã giải tỏa được nỗi trăn trở ấy: “Có anh em hỏi một người Công giáo có thể vào Đảng Lao động được không? Có. Người tôn giáo nào vào cũng được, miễn là trung thành, hăng hái làm nhiệm vụ, giữ đúng kỷ luật của Đảng. Nước ta kinh tế lạc hậu, kỹ thuật kém, tôn giáo là duy tâm, cộng sản là duy vật, nhưng trong điều kiện hiện tại, người theo đạo vẫn vào Đảng được”. Bác thường nhắc nhở đồng bào và chiến sĩ cả nước phải “quan tâm, chăm sóc cuộc sống vật chất và tinh thần cho đồng bào các tôn giáo. Mong sao sản xuất ngày càng phát triển, phần xác ta được ấm no thì phần hồn cũng được yên vui”. Bác quan niệm: Đối với người có tôn giáo thì đức tin tôn giáo và lòng yêu nước không hề mâu thuẫn. Một người dân Việt Nam có thể vừa là một người dân yêu nước, đồng thời cũng vẫn là một tín đồ chân chính. Với Phật giáo, Bác cho rằng: “Phật giáo Việt Nam với dân tộc như hình với bóng, tuy hai mà một. Tôi mong các Hòa thượng, tăng ni và phật tử hãy tích cực thực hiện tinh thần Từ bi, Vô ngã, Vị tha trong sự nghiệp cứu nước, giữ nước và giữ đạo để cùng toàn dân sống trong Ðộc lập, Tự do, Hạnh phúc”.
Tâm linh là phần thiêng liêng trong ý thức hướng về cái cao cả của con người. Mỗi người có những mức độ tín ngưỡng khác nhau về những đấng tối cao, những học thuyết, những tôn giáo, những lý tưởng. Niềm tin của con người có thể không đủ cơ sở khoa học nhưng thường đạt tới sự hoà quyện giữa tình cảm và lý trí, dẫn đến những chỉ đạo cho hành vi. Tâm linh là tâm thức ở mức độ khá thần bí, khó lý giải nhưng bao giờ cũng mang màu sắc thiêng liêng. Tuy tâm linh của các dân tộc phương Đông mỗi nơi mỗi khác, mỗi người mỗi khác nhưng đều hướng đến điều thiện. Bác Hồ là danh nhân văn hóa thế giới, nơi Người hội tụ nhiều nền văn hóa khác nhau nhưng sâu sắc nhất vẫn là tính Thiện của văn hoá phương Đông. Ai giàu tính Thiện đều được nhân dân suy tôn là hiền nhân, hiền sĩ là những người hiền tài, hiền năng, hiền đức.
Tháng 12/1945, Bác yêu cầu: “Quốc hội tự chọn lấy người hiền năng đảm nhiệm Chính phủ mới” (Sđd, T.4, tr.113). Người tài đức trong nước không bao giờ thiếu. Cái tâm của người lãnh đạo quyết định việc biết trọng dụng hay không trọng dụng nhân tài.
Tháng 11/1946, Bác Hồ đã có một nghĩa cử rất đẹp là tự phê bình về việc chưa phát hiện được nhân tài, Bác đề nghị nhân dân phát hiện hộ. Bác nói: “Kiến thiết cần phải có nhân tài. Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài, có đức. E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bậc tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận”. Người yêu cầu các địa phương phải khẩn trương tìm kiếm và báo cáo ngay lên Chính phủ: “Hẹn trong một tháng, các cơ quan, địa phương phải báo cáo cho đủ” (Sđd, T.4, tr.451). Bây giờ dân số nước ta đã tăng lên gấp hơn 4,3 lần, người tài đức đâu có thiếu, vậy mà nơi này nơi khác vẫn còn tình trạng “dùng người không biết nhạc làm nhạc trưởng”!
Cái tâm của con người chịu sự kiểm soát của một linh thức mang màu sắc phương Đông, đó là tư duy: “Ở hiền gặp lành”, “Ác giả, ác báo”, “Gieo gió, gặp bão”, “Đời cha ăn mặn, đời con khát nước”... Đây chính là niềm tin Phật giáo, Nghiệp của kiếp trước là Nhân, Nhân sinh thành Quả ở kiếp này. Con người còn có thể gieo Nhân gặt Quả ngay trong cùng một kiếp. Những kẻ tham quan hãy ngẫm xem về lâu dài đã mấy kẻ có cuộc sống thanh bình, con cái thành đạt, gia đình hạnh phúc? Quyền hành, lợi lộc, của cải, tiền bạc, danh vị, chức tước... chẳng qua cũng chỉ là những chuyện phù du trong cái lâu dài của kiếp người.
Bác Hồ, bằng cả cuộc đời tranh đấu gian truân vì độc lập, tự do của đất nước và bằng cuộc sống giản dị, trong sáng mẫu mực, Người đã chứng minh đúng như lời tuyên bố ngay từ đầu năm 1946 trước các nhà báo nước ngoài: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tôi lui thì tôi rất vui lòng lui”.
Niềm tin của Bác dành hết cho nhân dân, vì Người quán triệt triết lý của Khổng giáo về thân dân, ái dân, ưu dân, trọng dân. Bác Hồ không coi Khổng giáo như một tôn giáo. Người nói: “Đạo Khổng không phải là tôn giáo, nói đúng hơn, đó là một môn dạy về đạo đức và phép xử thế. Xét về cơ bản thì đạo Khổng cũng thuyết giáo nền hoà mục trong xã hội” (Tạp chí Học Tập, 6/1970, tr.38 ).
Ngay từ năm 1951, Người đã có những tiên đoán: “Ý dân là ý trời. Đế quốc Mỹ làm trái ý dân, ý trời, cho nên chúng sẽ thất bại” (Sđd, T.6, H.1995, tr.246).
Đáng lo là ngày nay, nhiều người vốn xuất thân từ dân nghèo, được nhân dân nuôi nấng, dạy dỗ, đùm bọc, che chở, vậy mà khi thành “quan” thì phút chốc đã quên dân, xa dân, không hiểu nỗi đau của dân, cái nghèo của dân, nhẫn tâm vơ vét tài sản của Nhà nước, của những người dưới quyền (tất cả suy ra cũng chính là của dân). Những kẻ mà như Bác nhận xét: “Học cái xấu thì dễ, như ở trên đỉnh núi, trượt chân một cái là nhào xuống vực sâu” (Sđd, T.7, H.1996, tr.345).
Có nhiều người hiện nay vẫn còn sống buông thả, vi phạm các nguyên tắc đạo đức, vi phậm pháp luật. Họ không biết sợ vì họ có một đời sống tâm linh quá nghèo nàn. Tuy nhiên sớm hay muộn cũng phải trả giá, bởi vì như Bác đã tổng kết: “Có hai con đường ở thế giới, ở trong nước và ở trong mình. Theo con đường ác thì dễ dàng, nhưng lăn xuống hố. Theo con đường thiện thì khó nhọc, nhưng vẻ vang” (Sđd, T.7, tr.63). Mỗi chúng ta đều phải biết tự răn đe hàng ngày, cần phải sống lương thiện, sống hết mình vì những nghĩa cử lớn lao, đó chính là để lại phúc đức cho con cháu sau này và cũng là để có được ngay những năm tháng sống bình yên, thanh thản, hạnh phúc. Sẽ đau khổ biết bao nếu như khi về hưu mà không còn ai thèm lai vãng, không còn ai buồn chào hỏi và thậm chí sau khi đã trở về với cát bụi rồi mà vẫn còn có những người phải giữ mãi oán hận.
Mong sao với tinh thần của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) và phong trào Học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, mỗi chúng ta hiểu đúng hơn khái niệm về tâm linh, tôn trọng vào lòng tin của chính mình, của mọi người, biết sợ hãi khi làm điều xấu và thấy hạnh phúc khi làm điều tốt lành. Mỗi người sống tốt lên thì cả xã hội mới tốt lên được. Mà khi cả xã hội tốt lên thì mới có thể mong hướng tới được mục tiêu cao đẹp “Dân giàu, Nước mạnh, Xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”!
Theo Blog của GS Lân Dũng, 12/5/2012

BÁC HỒ VỚI VẤN ĐỀ NHÂN LỰC, NHÂN TÀI

GS, TS, NGND Nguyễn Lân Dũng
Tại lớp học chính trị của giáo viên cấp II, cấp III toàn miền Bắc, ngày 13/9/1958, Bác Hồ đã có bài nói quan trọng về nhiệm vụ của những người thầy giáo với sự nghiệp giáo dục - đào tạo. Bác căn dặn: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người. Chúng ta phải đào tạo ra những công dân tốt và cán bộ tốt cho nước nhà. Nhân dân, Đảng, Chính phủ giao các nhiệm vụ đào tạo thế hệ tương lai cho các cô, các chú. Đó là một trách nhiệm nặng nề nhưng rất vẻ vang”. Câu nói nổi tiếng này đã phản ánh tư tưởng Hồ Chí Minh về Giáo dục.
Trong Thư gửi cho học sinh vào ngày 05/9/1945, Bác đã viết: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp được hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.
Rất nhiều lần Bác đề cập đến việc đào tạo và bồi dưỡng nhân tài. Ngay từ ngày 14/11/1945, Bác viết: “Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm, nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài ngày càng phát triển, càng thêm nhiều”. Và ngay từ ngày 13/11/1946 theo đề nghị của Bác, Quốc hội Khóa I đã cử GS, TS Nguyễn Văn Huyên, một trí thức ngoài Đảng mới 37 tuổi làm Bộ trưởng Bộ Quốc gia giáo dục. Nhà trí thức ngoài Đảng này đã làm rất tròn nhiệm vụ mà Bác Hồ giao phó trong suốt 29 năm cho đến tận ngày qua đời (19/10/1975).
Bác rất quan tâm đến nhân tài và không phân biệt đó là người trong Đảng hay ngoài Đảng. Ngay từ ngày mới dựng nước, Bác đã rất quan tâm đến các trí thức ngoài Đảng. Bác Hồ là vị lãnh tụ đặc biệt quý trọng trí thức. Trong thư gửi Tổng bộ Việt Minh Bác đã viết: “Việt Minh định tổ chức một Chính phủ rộng rãi, gồm tất cả các nhân tài trong nước để gánh vác việc quốc gia. Lúc đó có người nghĩ rằng các nhân sĩ có danh vọng chưa chắc vui lòng hợp tác với Việt Minh. Song vì Việt Minh đặt quyền lợi Tổ quốc và dân tộc lên trên hết, và lấy lòng chí công vô tư mà làm việc, cho nên các bậc có tài đức, danh vọng đều vui lòng hợp tác trong Chính phủ” (Hồ Chí Minh toàn tập, H.1995, T.5, tr.412). Khi thành lập Chính phủ tại kỳ họp thứ hai Quốc hội Khóa I (ngày 03/11/1946), Bác Hồ đã đề nghị lựa chọn khá nhiều trí thức không phải là đảng viên. Đó là Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên, Bộ trưởng Bộ Giao thông công chính Trần Đăng Khoa, Bộ trưởng Bộ Y tế Hoàng Tích Trí, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Vũ Đình Hòe, Bộ trưởng Bộ Canh nông Ngô Tấn Nhơn, Bộ trưởng Bộ Cứu tế Chu Bá Phượng, Bộ trưởng Không Bộ Nguyễn Văn Tố và Bồ Xuân Luật. Về sau Bác cho biết: “Khi tổ chức Chính phủ lâm thời, có những đồng chí trong Ủy ban Trung ương do Quốc dân đại hội bầu ra, đáng lẽ tham gia Chính phủ, song các đồng chí ấy đã tự động xin lui, để nhường chỗ cho những nhân sĩ yêu nước nhưng còn ở ngoài Việt Minh. Đó là một cử chỉ vô tư, tốt đẹp, không ham chuộng địa vị, đặt lợi ích của dân tộc, của đoàn kết toàn dân lên trên lợi ích cá nhân. Đó là một cử chỉ đáng khen, đáng kính mà chúng ta phải học” (Sđd, H.1996, T.6, tr.160). Năm 1947, Chính phủ được cải tổ với sự tham gia thêm của một số trí thức ngoài Đảng khác như Bộ trưởng Kinh tế Phan Anh, Bộ trưởng Ngoại giao Hoàng Minh Giám. Sau khi cụ Huỳnh Thúc Kháng tạ thế, Bác Hồ mời cụ Phan Kế Toại làm Quyền Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Khi đó trong Chính phủ có tới 10 vị là người ngoài Đảng nhưng đều là những trí thức nhiệt tình và đem hết tâm trí ra để hoàn thành trọng trách của mình. Ông Tạ Quang Bửu là một nhà toán học nổi tiếng (lưu học tại Đại học Paris, Bordeaux - Pháp và ĐH Oxford - Anh) về nước năm 1934 và dạy học ở Huế. Năm 1945 cùng Luật sư Phan Anh ra Hà Nội để tham gia Cách mạng. Tháng 3/1946, tuy chưa vào Đảng, ông đã được Bác Hồ giao cho làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Tháng 8/1947, tuy chỉ mới được kết nạp vào Đảng tròn 1 tháng, ông đã được giao trọng trách làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Chỉ có Bác Hồ mới dám tin dùng cán bộ trí thức như vậy. Sau ngày Hòa bình lập lại, ngày 20/9/1955, Chính phủ được bổ sung và thay đổi nhân sự. Đến lúc này trong Chính phủ vẫn còn tới 8 vị Bộ trưởng là người ngoài Đảng. Có những vị Bộ trưởng tuy ở ngoài Đảng nhưng đã hoàn thành một cách xuất sắc cương vị công tác của mình trong mấy chục năm liền (Nguyễn Văn Huyên, Phan Anh, Nghiêm Xuân Yêm, Trần Đăng Khoa...) . Cụ Phan Kế Toại về sau được cử làm Phó Thủ tướng Chính phủ.
Bên cạnh các vị trí thức tham gia Chính phủ, Bác Hồ còn ân cần chăm sóc đội ngũ trí thức ngoài Đảng tham gia trực tiếp trong các ngành giáo dục, y tế, khoa học... Trong bản báo cáo với Bác sau cuộc Chỉnh huấn ở chiến khu Việt Bắc, GS Hồ Đắc Di đã viết: “Hôm qua tôi đã tu trong chuyên môn, say mê với kỹ thuật, ngày mai tôi sẽ ăn chay nằm đất trong quần chúng, vui sống với nhân dân. Lời hứa này tôi quyết tâm thi hành”. Và quả đúng như vậy, trong suốt cuộc đời mình, GS Hồ Đắc Di cùng các trí thức lớn được Bác Hồ giao trọng trách xây dựng ngành Y tế như Tôn Thất Tùng, Đặng Văn Ngữ, Trần Hữu Tước, Đặng Văn Chung, Đỗ Xuân Hợp... đã có những cống hiến hết sức xuất sắc. Bác Hồ đã theo sát từng bước tiến của các trí thức này và thường xuyên có những thư ngắn để động viên, thăm hỏi. Một cái thiếp Bác gửi cho GS Tôn Thất Tùng chỉ có vài dòng nhưng chứa chan tình thân ái: “Bác sĩ Tùng! Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ trưởng Bộ Y tế báo cáo: chú làm việc rất hăng hái. Tôi rất vui lòng. Chú cứ gắng sức. Kháng chiến nhất định thắng lợi. Tổ quốc sẽ nhớ công con hiền cháu thảo. Thím và các cháu đều mạnh khỏe chứ? Tôi luôn luôn bình an. Gửi chú và thím lời chào thân ái và quyết thắng”. Bác còn đặt tên là Bách cho con trai cả của GS Tùng.
Bên ngành giáo dục cũng có rất nhiều trí thức ngoài Đảng được Bác Hồ chăm sóc, bồi dưỡng và tin tưởng giao cho những trọng trách nặng nề. Đó là GS Nguyễn Văn Huyên, vị Bộ trưởng tận tụy hoạt động suốt 3 thập niên để xây dựng ngành giáo dục. Khi nghe tin thân mẫu của GS Nguyễn Văn Huyên và bà Phan Kế Toại qua đời bác viết ngay thư chia buồn với lời lẽ thật thân tình:
“Cụ Phan, Bộ trưởng Bộ Nội vụ,
Ông Nguyễn, Bộ trưởng Bộ giáo dục,
Tôi rất buồn được tin Bá Mẫu qua đời. Nhân danh tôi và nhân danh Chính phủ, tôi kính gửi lời chia buồn với Cụ và Ông cùng quý quyến.
Hồ Chí Minh”
Đó còn là rất nhiều GS ngoài Đảng khác như GS Ngụy Như Kontum, GS Nguyễn Xiển, GS Nguyễn Lân, GS Trần Văn Giáp, GS Trần Văn Khang, GS Nguyễn Thúc Hào, GS Nguyễn Thạc Cát, GS Ngô Thúc Lanh... được Bác cử sang Khu học xá Trung ương (Nam Ninh, Trung Quốc) để góp phần đào tạo ra hàng nghìn giáo viên và trí thức chuẩn bị cho đất nước sau khi kết thúc chiến tranh chống thực dân Pháp. Khi đang làm nhiệm vụ Giám đốc Giáo dục Liên khu X, GS Nguyễn Lân đã vô cùng cảm kích khi nhận được tấm bằng khen của Bác Hồ với lời ghi: “Một Giám đốc có tài” kèm theo là một bộ quần áo lụa bên trong có thêu hàng chữ: “Chúng cháu kính dâng Bác Hồ”.
Về khoa học thì có lẽ trường hợp tiêu biểu nhất là GS Trần Đại Nghĩa. Ông là kỹ sư Phạm Quang Lễ, Bác trực tiếp thuyết phục ông và tìm cách bí mật đưa ông từ Pháp về nước để giao trọng trách làm Cục trưởng Cục Quân giới. Bác còn tự tìm tên để đổi cho ông. Bác nói: “Việc của chú là việc đại nghĩa, vì thế kể từ nay Bác đặt tên cho chú là Trần Đại Nghĩa. Dùng bí danh này để giữ bí mật cho chú và để bảo vệ gia đình, bà con chú còn ở trong Nam”.
Bác tin ai là không có nhầm. Là một Việt kiều sống lâu năm xa Tổ quốc, mặc dầu bắt đầu từ hai bàn tay trắng nhưng GS Trần Đại Nghĩa đã ra sức góp phần tích cực xây dựng ngành quân giới non trẻ để phục vụ trực tiếp cho chiến đấu. Có lần Bác gửi cho GS Nghĩa một chiếc áo với mẩu giấy ghi hàng chữ: “Chiếc áo sơ mi của đồng bào Thái Lan tặng Bác. Bác tặng lại chú, mặc cho ấm để làm việc tốt”. Có lần khác Bác còn căn dặn: “Khi nào chú bị người ta trù dập, chú báo ngay cho Bác biết để Bác giải quyết.”
Những chuyện ấm lòng như vậy đối với những người trí thức ngoài Đảng kể sao cho xiết.
Bác phân tích: “So với số nhân dân thì số đảng viên chỉ là tối thiểu, hàng trăm người dân mới có một người đảng viên. Nếu không có nhân dân giúp sức thì Đảng không làm được việc gì hết... Ta cần hợp tác với người ngoài Đảng. Ta không được khinh rẻ họ, chê bai họ... Cũng vì bệnh hẹp hòi mà không biết dùng nhân tài, việc gì cũng ôm lấy hết. Ôm lấy hết thì cố nhiên không làm nổi” (Sđd, H.1995, T.5, tr.238).
Ngày nay cả nước đã có tới trên 86 triệu người, kể cả bà con sinh sống ở nước ngoài thì đã có đến gần 88 triệu người. Trong khi đó mới chỉ có 3 triệu đảng viên. Đa số đảng viên là tốt, nhưng không phải chỉ có đảng viên mới là người tốt. Có lần, tiếp xúc với cử tri trước ngày bầu cử Quốc hội, tôi đã bị một người dân chất vấn: “Trong lý lịch ông ghi 19 năm là Chiến sĩ thi đua, vậy bây giờ ông hãy nói thật với cử tri là ông đã phạm tội lỗi gì mà không được vào Đảng”. Tôi chỉ biết trả lời là: “Nước ta còn trên 83 triệu người chưa phải là đảng viên, nhẽ nào họ đều là người phạm tội? Tôi mong muốn là một công dân tốt trong một nước có một Đảng tiền phong vững mạnh”. Bà con vỗ tay hoan hô. Trong quá trình tham gia Quốc hội, nhất là lại ở trong Ủy ban Đối ngoại, rất nhiều lúc vị trí ngoài Đảng của tôi lại là một hình ảnh tốt cho tinh thần Đại đoàn kết của đất nước ta. Vừa qua, Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc cũng đã chất vấn Bộ trưởng Bộ Nội vụ về việc chỉ cử đảng viên vào các chức vụ lãnh đạo là lãng phí tài năng của 83 triệu người. Câu trả lời của Bộ trưởng chưa thật thỏa đáng. Trung Quốc có tới 73 triệu đảng viên, trong số này thiếu gì nhân tài vậy mà họ đã cử các ông Vạn Cương và Trần Trúc không phải là đảng viên giữ các chức vụ Bộ trưởng Khoa học - công nghệ và Bộ trưởng Y tế, ngoài ra còn có rất nhiều nhân sĩ ngoài đảng khác tham gia công việc quản lý đất nước.
Tôi chỉ mong muốn Đảng và Nhà nước cần lựa chọn ra những trí thức đáng tin cậy, dù là đảng viên hay không phải là đảng viên, và hãy giao cho họ những trách nhiệm cụ thể, dù là nặng nề, nhưng để cho họ có điều kiện cống hiến hết sức mình cho các mục tiêu mà họ đã hàng nửa thế kỷ theo đuổi.
Ngày 10/01/1946, Bác đã khẳng định mục đích của tự do độc lập là 4 nhiệm vụ. Đó là: “Làm cho dân có ăn, Làm cho dân có mặc, Làm cho dân có chỗ ở, Làm cho dân có học hành. Cái mục đích chúng ta đi đến là 4 điều đó. Đi đến để dân nước ta xứng đáng với tự do, độc lập và giúp sức được cho tự do, độc lập”.
Để giúp cho dân có học hành, Bác đã động viên mạnh mẽ phong trào Bình dân học vụ. Trong thư gửi anh chị em giáo viên Bình dân học vụ vào tháng 5/1946, Bác đã viết: “Anh chị em làm việc mà không có lương bổng, thành công mà không có tiếng tăm. Anh chị em là những người vô danh anh hùng. Tuy là vô danh nhưng rất hữu ích. Một phần tương lai của dân tộc nước nhà nằm trong sự cố gắng của anh chị em”.
Bác luôn luôn đề cao đến việc Học phải đi đôi với Hành. Trong bài nói chuyện tại Thanh Hóa ngày 20/02/1947, Bác đã nói: “Trước học một đường, hành một nẻo. Nay phải sửa chương trình làm sao để học thì hành được ngay”. Đến tận hôm nay, với lời dặn ấy, chúng ta vẫn chưa làm được tốt. Không ít sinh viên ra trường mà vẫn bỡ ngỡ trước những công việc được giao, dù là đúng với chuyên ngành được đào tạo, phải mất rất nhiều thời gian để đào tạo lại.
Bác rất ghét bệnh thành tích. Trong “Thư gửi các bạn thanh niên” ngày 17/8/1947, Bác đã nhấn mạnh: “Chớ đặt những chương trình, kế hoạch mênh mông, đọc nghe sướng tai nhưng không thực hiện được. Việc gì cũng phải thiết thực; nói được, làm được. Việc gì cũng phải từ chỗ nhỏ dần dần đến to, từ dễ dần dần đến khó, từ thấp dần dần đến cao. Một chương trình nhỏ mà thực hiện được, hẳn hoi, hơn là một trăm chương trình to tát mà làm không được”. Chúng ta phát động rầm rộ phong trào “Hai không” từ năm 2006, vậy mà kỳ thi tốt nghiệp THPT năm nay nhiều phóng viên đã nhận xét sau giờ thi “phao” vẫn trắng sân trường và tỷ lệ tốt nghiệp cao chưa từng thấy (!)
Bác rất quan tâm đến việc cải tiến cách dạy trong Nhà trường. Trong thư gửi Hội nghị Giáo dục toàn quốc (tháng 7/1948), Bác đã nhắc nhở: “Chúng ta phải sửa đổi cách dạy cho hợp với sự đào tạo nhân tài”. Vậy mà cho đến gần đây, thày giáo Dương Minh ở Trường THPT Quy Nhơn vẫn phải thốt lên: “Vòng chu chuyển vẫn theo con đường khuôn mẫu: Học sinh sợ Thầy; Thầy sợ Trường; Trường sợ Sở; Sở sợ Sách giáo khoa, sợ quy định của Chương trình, sợ kết quả thi cử” (http: //quynhon. edu.vn/) (!)
Ngay từ tháng 5/1950, Bác đã cảnh báo về việc ham mở thật nhiều trường lớp mà thiếu giáo viên cơ hữu. Bác nói: “Hiện nay đang có một cái dịch mở trường... Vì mở nhiều lớp nên thiếu người giảng. Thiếu người giảng thì học viên đâm chán nản. Thiếu người giảng thì phải đi bắt phu, vì thế người đến giảng khi nào cũng hấp tấp, lướt qua lớp này một chút, lớp khác một chút như chuồn chuồn đạp nước, dạy không chu đáo. Thiếu người giảng thì thường khi lại phải bịt lỗ, người bịt lỗ năng lực kém, nói sai, có hại cho học sinh...”. Bác nói cách đây những 61 năm mà đúng y như chuyện chạy sô của nhiều giảng viên Đại học, Cao đẳng hiện nay.
Hiện nay học sinh rất sợ học, sợ thi và không còn thời gian và tâm trí đâu để tận hưởng hạnh phúc hồn nhiên của tuổi thơ. Điều này ngay từ ngày 28/8/1950 Bác đã phê phán và căn dặn: “Phải giữ toàn vẹn tính vui vẻ, hoạt bát, tự nhiên, tự động, trẻ trung của chúng, chớ nên làm cho chúng trở nên già cả... Trong lúc học cũng cần làm cho chúng vui. Ở trong nhà, trong trường, trong xã hội chúng đều vui, đều học”. Bao giờ chúng ta mới thực hiện được lời căn dặn này của Bác?
Bác luôn luôn quan tâm đến việc nâng cao vị trí của các thầy cô giáo. Ngày 12/6/1956, Bác đã viết: “Nhiệm vụ giáo dục rất quan trọng và vẻ vang, vì nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục... Không có giáo dục, không có cán bộ thì cũng không nói gì đến kinh tế, văn hóa. Trong việc đào tạo cán bộ, giáo dục là bước đầu. Tuy không có gì oanh liệt nhưng làm tròn nghĩa vụ là anh hùng, anh hùng tập thể”.
Nhớ lại những lời căn dặn từ cách đây trên nửa thế kỷ của Bác Hồ chúng ta càng thấy trách nhiệm nặng nề nhưng vẻ vang của đội ngũ trên 1 triệu thầy cô giáo và các nhà quản lý giáo dục đúng như tinh thần của Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng: “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước”.
Theo Blog của GS Lân Dũng, 06/5/2012