13 tháng 6, 2019

TRIẾT LÝ TRONG "TÂY DU KÝ" (1986)

KỲ II: VÌ SAO ĐƯỜNG TĂNG MẶC ÁO CÀ SA GẤM ĐI TU HÀNH, DÙNG BÁT BẰNG VÀNG ĐỂ ĐỔI CHÂN KINH?
Không phải báu vật áo cà sa gấm, không phải tích trượng cửu hoàn mà chỉ có bát vàng mới đổi được chân kinh trong Tây Du Ký.
Áo cà sa gấm đắt giá trên vai người tu hành
Tây Du Ký 1986 là bộ phim truyền hình được nhiều thế hệ khán giả yêu thích. Cùng với Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới và Sa Tăng, nhân vật Đường Tăng đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người hâm mộ.
Thực chất vật quý báu nhất trên đời trong tay Đường Tăng đó là áo cà sa gấm và gậy tích trượng cửu hoàn của Đức Như Lai.
Phật Tổ Như Lai đã từng nhắc rằng: “Cà sa là áo giáp chở che, tích trượng để thêm sức cho đôi chân vững vàng trụ lập. Cà sa và tích trượng ấy chính là đạo đức chân chính của con người. Có đạo đức, con người đủ khả năng tự phòng thủ, tự bảo vệ mình khỏi sa chân vào tội lỗi lạc lầm, tránh xa được sự trừng phạt của ngục hình”.
Cho nên, khi Phật Tổ Như Lai sai A Nan và Ca Diếp mang áo cà sa gấm và tích trượng chín vòng trao cho Quan Âm Bồ Tát, đã dặn dò rằng: “Tấm áo cà sa và cây gậy này đưa cho người lấy kinh dùng. Nếu người ấy mặc tấm áo cà sa của ta sẽ có thể miễn được vòng luân hồi, giữ chiếc trượng này có thể không bị độc hại”.
Và khi ở kinh thành Trường An, giải thích chỗ quý báu của cà sa, Quan Âm Bồ Tát cũng bảo: “Mặc tấm áo cà sa của ta thì không bị đắm chìm, không sa địa ngục, không gặp tai ương ác độc, không bị hoạn nạn sói lang”.
Nếu sở hữu 2 thứ này, bất kỳ ai cũng có thể tránh bị rơi trong vòng xoáy đầu thai luân hồi (nghĩa là trường sinh) và không bị độc dược làm hại.
Trong Tây Du Ký, chạm mặt yêu nữ động Tỳ Bà, Đường Tăng sa vào sắc dục. Lúc ấy Đường Tăng như trong cơn mộng du, lảo đảo bước gần tới vòng tay yêu nữ đón mời.
Lúc ấy mảnh cà sa đỏ rực bỗng nhẹ tênh, vuột bay khỏi thân Đường Tăng. Điều ấy chứng tỏ áo vuột rơi rồi, tội lỗi mở cửa chực chờ. Đạo đức mất đi, cái xấu chen vào.
Nhớ năm ấy Quan Thế Âm Bồ Tát trao áo cà sa và tích trượng cho Đường Tăng, nếu không có hai vật báu ấy chắc chắn sẽ không có nạn ở núi Hắc Phong, yêu quái cũng không có cơ hội để ăn trộm báu vật!
Không phải cà sa gấm, không phải tích trượng, mà chỉ có bát vàng mới đổi chân kinh
Vật báu thứ ba chính là bát vàng - tượng trưng cho quyền lực, danh vọng, của cải, tình thân, lòng dũng cảm.
Trước khi Tam Tạng lên đường, Đường Thái Tông Lý Thế Dân đã ban tặng bát làm bằng vàng thật cho Đường Tăng làm quà khởi hành. Đó là vật Đường Tăng quý hơn bất kỳ thứ gì.
Thế nhưng, một vị tu gia khổ hạnh như Đường Tăng lại cầm theo bát vàng trên đường thỉnh kinh, liệu có hợp lý hay không?
Phải nói kỹ rằng, đối với người cầm nã quy Phật, chiếc bát xin của bố thí hàng ngày lại là một trong những vật quý giá nhất.
Đệ tử Phật gia bảo tồn chiếc bát giống như bảo vệ tròng mắt của mình, vì chiếc bát không chỉ tượng trưng cho sự thanh tịnh, tinh khiết của một hành giả xuất gia, chiếc bát còn tượng trưng cho tâm từ bi bao la rộng khắp đối với muôn loài.
Vậy nên với người xuất gia, với Đường Tăng, chiếc bát vàng ở đây nằm ngoài địa hạt vật chất. Nó là tâm đạo của kẻ tu hành.
Gian nan kinh qua, 4 thầy trò đến đất Phật vui mừng vì sắp lĩnh chân kinh, thế nhưng hai vị tôn giả A Nan, Ca Diếp đòi thầy trò Đường Tăng hối lộ cái bình bát bằng vàng mới cho lấy kinh.
Trong truyện có đoạn: “A Nan, Ca Diếp dẫn Đường Tăng xem khắp tên các bộ kinh một lượt, đoạn nói với Đường tăng: Thánh tăng từ phương Đông tới đây, chắc có chút lễ vật gì biếu chúng tôi chăng? Mau đưa ra đây chúng tôi mới trao kinh cho.
Tam Tạng nghe xong nói: Đệ tử là Huyền Trang, vượt đường sá xa xôi, chẳng chuẩn bị được quà cáp gì cả.
Hai vị tôn giả cười nói: Hà hà! Tay trắng trao kinh truyền đời, người sau đến chết đói mất”.
Tại sao đã đạt đến cảnh giới La Hán mà hai vị hai vị tôn giả A Nan, Ca Diếp lại còn có cái tâm tham tiền tài như vậy?
Thực ra, Tam Tạng còn có hai bảo vật của Phật Quan Âm tặng: chiếc cà sa báu và cây tích trượng. Thế thì tại sao lại chỉ dâng cho A Nan chiếc bình bát?
Giáo pháp nhà Phật luôn nhắc đến việc bất kì điều gì cũng có căn nguyên từ trước, không cái gì tự nhiên mà có, cũng không có điều gì là ngẫu nhiên.
Bốn thầy trò thỉnh kinh cũng không phải chuyện ngẫu nhiên, muốn có được kinh Phật cũng không tự nhiên mà có.
Bởi vậy nên khi Hành Giả khiếu nại sự việc bị đòi lễ vật, Phật Tổ cười nói: “Chuyện ấy ta đã hay rồi. Bởi kinh rất quý, không thể lấy một cách dễ dàng. Trước kia Tỉ Khâu từng đem kinh xuống nước Xá Vệ mà tụng cầu siêu cho Triệu Trưởng Giả. Triệu Trưởng Giả cũng chỉ trả công bằng ba đấu vàng cốm của họ ban về. Ta nói họ bán kinh rẻ quá, con cháu đời sau lấy gì mà sống”.
Thế nhưng đằng sau lại có ý nghĩa khác thâm sâu vô cùng.
Chiếc bát vàng của Đường Tăng là của vua Đường Lý Thế Dân tặng cho ngự đệ kết nghĩa - đó là đại diện của tư tình, của cải và danh vọng ở thế gian.
Khi đến đất Phật, hai Phật tử A Nan và Ca Diếp muốn lấy của Đường Tam Tạng chiếc bát chỉ là việc thử lòng Đường Tăng, nhưng khi Đường Tăng không chấp nhận đề nghị này thì số kinh Phật lấy về chỉ là kinh vô tự (kinh không có chữ).
Chân kinh chỉ lấy được khi Đường Tăng buông xả, trao bát vàng cho A Nan và Ca Diếp. Buông xả bát vàng nghĩa là không còn bị ràng buộc với danh vọng và của cải thế tục. A Nan và Ca Diếp đã khai ngộ cho bốn thầy trò Đường Tăng, bằng cách làm cho bốn thầy trò Đường Tăng không còn giữ và cũng không còn vật để giữ.
(PH sưu tầm và biên chỉnh)

TRIẾT LÝ TRONG "TÂY DU KÝ" (1986)

KỲ I: SỰ THẬT VỀ CHUYỆN BỒ TÁT ĐỨNG SAU “CHỈ ĐẠO” YÊU QUÁI TẤN CÔNG THẦY TRÒ ĐƯỜNG TĂNG
Còn nhớ những trắc trở ở Bình Đỉnh Sơn mà thầy trò Đường Tăng trong Tây Du Ký trải qua, không thể ngờ rằng đằng sau ấy là sự sắp đặt của Quan Âm Bồ Tát.
Thân thế thần tiên của yêu quái Kim Giác, Ngân Giác
Kể từ khi vào khu vực Bình Đỉnh Sơn, Ngộ Không đã đi nghe ngóng tìm hiểu thêm về những con yêu quái để xua tan nỗi sợ của Đường Tăng.
Nói về núi Bình Ðỉnh, động Liên Hoa, có hai con chúa yêu là: Kim Giác đại vương và Ngân Giác đại vương.
Kim Giác mưu ma chước quỷ, biết tin ăn thịt Đường Tăng có thể trường sinh bất lão, lại vừa hay bốn thầy trò đi ngang qua chốn Động Liên Hoa liền bàn kế với hiền đệ Ngân Giác bắt Đường Tăng về ăn thịt.
Kim Giác, Ngân Giác tuy rằng hình hài xấu xí, võ thuật chẳng đến đâu tuy nhiên với 5 bảo bối lấy được từ Thái Thượng Lão Quân, bỗng pháp lực của chúng tăng lên gấp bội.
Thầy trò qua núi, Ngân Giác tính trước, làm phép di sơn. Niệm chú khiến hòn núi Tu Di bay ngang rớt xuống khiến Tôn Ngộ Không bị nằm dưới hòn núi y như năm nào ở Ngũ Hành Sơn.
Thoát khỏi yêu ma, Tôn Ngộ Không gặp Nhật Trực Công Tào biết rằng các đối thủ mà bốn thầy trò phải đối mặt trong kiếp nạn ở Bình Đỉnh Sơn này rất lợi hại.
Tính trước một bước, Nhật Trực Công Tào đã biến thành một tiều phu để báo tin cho Ngộ Không.
Khi Ngộ Không nhìn thấy tiều phu, liền nói thẳng ra rằng mình có thể gọi Sơn thần và Thổ địa ra để khiến yêu quái hiện thân.
Người tiều phu vừa nghe vậy liền cười lớn và nói với Ngộ Không: “Thì ra ngài là một hòa thượng điên”.
Ngộ Không mạnh miệng nói: “Ta không điên, đây là lời nói thật”.
Người tiều phu biết rằng các đối thủ mà bốn thầy trò phải đối mặt trong kiếp nạn ở Bình Đỉnh Sơn này rất lợi hại, bèn hỏi Ngộ Không: “Ngài thu phục đám yêu quái này như thế nào? Áp giải bọn chúng đi đâu?”.
Ngộ Không nói rằng: “Nếu là thiên ma, thì đưa đến Ngọc Đế; nếu là địa ma, thì đưa đến Âm phủ. Tây phương quy Phật, Đông phương quy Thánh. Phương Bắc có Chân võ, phương Nam có Hỏa đức. Là yêu rồng thì đưa nó đến với vua biển, là ác quỷ thì đưa nó đến gặp Diêm Vương, mỗi thứ yêu ma đều có nguồn gốc phương hướng riêng. Lão Tôn ta đây quen biết khắp nơi, chỉ cần đưa ra một thông báo, là có thể khiến nó phải khiếp sợ mà chạy trốn”.
Cuối cùng, những trắc trở phải trải qua ở Bình Đỉnh Sơn của Đường Tăng cũng đến hồi kết thúc.
Đối đầu Kim Giác - Ngân Giác, Tôn Hành Giả phải một phen lao tâm khổ trí, hết biến thân thành Đạo sĩ lừa lấy bảo bối, giả dạng mẹ của hai tên yêu quái đến dùng chiêu Tôn Hành Giả - Giả Hành Tôn mới đột nhập được vào trong, đoạt lại những bảo bối của Kim Ngân Giác.
Trận chiến long trời lở đất nổ ra, Ngộ Không bị ba ngọn núi Tu Di, Thái Sơn, Nga Mi đè hai vai; Bát Giới, Sa Tăng đại chiến với lũ yêu ma, chỉ nhìn thấy chém giết đến bầu trời tối đen, thần ma kinh động. Thậm chí, Tôn Ngộ Không phải nhờ đến sự giúp đỡ của Na Tra Thái Tử và Thái Thượng Lão Quân mới có thể thu phục được quái yêu, kiếp nạn mới coi như được giải trừ.
Khi họ chuẩn bị rời đi, Thái Thượng Lão Quân đã ngăn họ lại và muốn Ngộ Không hoàn trả 5 bảo vật: Hồ lô Tử Kim, Ngọc Tịnh bình, Gươm Thất Tinh, Kim Cang trát, Hoàng kim thừng.
Hồ lô Tử Kim và Bình Ngọc Tịnh vốn là những bảo bối của Thái Thượng Lão Quân bị yêu quái Ngân Giác và Kim Giác lấy trộm mang xuống trần hoành hành. Tương truyền từ thuở hỗn mang, khi Nữ Oa luyện đá vá trời sinh ra linh khí trong trời đất, ở núi Côn Lôn có cây bầu Tử Kim cho ra 2 quả, Thái Thượng Lão Quân đã lấy chúng về về điểm hóa linh khí, dùng để đựng nước thánh và linh đơn.
Lúc này, Ngộ Không mới biết rằng bảo vật và hai tên yêu quái kia đều là đồ đệ (tiên đồng) của Thái Thượng Lão Quân. Ngộ Không liền nổi trận lôi đình quát tháo: “Lão quan gia ông thật là vô lễ, ngang nhiên dung túng vật nhà ra gây hại”.
Lúc ấy Thái Thượng Lão Quân mới tâu trình rằng sự việc này là do Quan Âm Bồ Tát đã tìm tới ông 3 lần, mượn người mượn vật để tạo ra ma nạn này, mục đích là để khảo nghiệm xem liệu cái tâm đi thỉnh kinh của bốn thầy trò Đường Tăng có kiên định hay không. 
Quan Âm Bồ Tát là “trùm cuối” chỉ đạo yêu quái tấn công thầy trò Đường Tăng?
Vậy, nhìn thử góc độ sinh quan, việc Quan Âm Bồ Tát đã mượn hai đồng tử canh gác lò luyện đan của Lão Quân, và mượn vài bảo vật, rồi âm thầm tạo ra một hoàn cảnh - lấy Bình Đỉnh Sơn Liên Hoa Động làm “chiến trường” cho cuộc đại chiến chính tà, để mài giũa đội ngũ đi thỉnh kinh.
Ngộ Không nóng nảy không suy tính thiệt hơn. Bát Giới tham ăn lười biếng, tâm lý thường mất cân bằng, thích giở thói khôn vặt, trốn tránh khó khăn, kết quả là thường hay bị bắt, bị yêu quái trêu chọc; Đường Tăng không phân biệt được người tốt hay xấu, luôn dùng tư duy của người phàm để suy nghĩ các vấn đề; Sa Tăng điềm tĩnh không có chính kiến. Mặc dù họ có nhiều điều thiếu sót, nhưng điều đó không có nghĩa là họ không thể đi tới đích cuối cùng.
Sau trận chiến, Ngộ Không đã luyện thành được cặp mắt Hỏa nhãn kim tinh khi trải qua trận lửa trong lò luyện đan của Lão Quân. Thế nhưng, điều ngạc nhiên rằng, tại sao Ngộ Không lại có vẻ như không hay biết câu chuyện rắc rối này.
Thông thường, với mối quan hệ của Tề Thiên Đại Thánh, chuyện tìm ra nguồn gốc xuất thân của bầy yêu quái quả thật dễ dàng. Thậm chí Tề Thiên Đại Thánh còn có thể đưa yêu quái áp giải về vị trí ban đầu của nó, bất kể là ở trên trời hay dưới đất, ở biển hay âm giới, Đại Thánh đều sẽ tìm được giải pháp. Nếu thật sự không thể nào vượt qua được, Tôn Ngộ Không sẽ nhờ đến sự giúp đỡ từ các vị Thần tiên.
Ngoài ra, các kiếp nạn còn có một cách giải thích khác. Mặc dù, Ngộ Không khả năng diệt trừ yêu ma tuyệt đỉnh, nhưng Bồ Tát chỉ cần nhẹ nhàng biến hóa một chút, thì Ngộ Không phải vất vả khổ sở rất nhiều. Để cứu Đường Tăng, Ngộ Không “đã làm vỡ sáu lá gan phổi, đã dùng cạn kiệt hết sức lực tâm trí”.
Thế nên chuyện Quan Âm Bồ Tát mượn tay yêu quái để thử lòng Tôn Ngộ Không âu cũng là điều dễ hiểu.
(PH sưu tầm và biên chỉnh)

4 tháng 5, 2016

VỀ HAI BÀI THƠ THIỀN ĐỜI LÝ
Hoà thượng Thích Thanh Từ
1. Bài kệ “Thị Đệ tử” của Thiền sư Lý Vạn Hạnh:
Thiền sư Vạn Hạnh tịch năm 1018, năm sinh thì không rõ, Ngài thuộc dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi đời thứ 12. Tiểu sử của Ngài đã in trong quyển “Thiền sư Việt Nam” trang 53 của Hoà thượng Thích Thanh Từ. Sau đây là bài kệ thị tịch của Ngài:
bai4p171
Âm:
                   Thân như điện ảnh hữu hoàn vô,
                   Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô.
                   Nhậm vận thịnh suy vô bố úy,
                   Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.
Dịch thơ:
                   Thân như bóng chớp có rồi không,
                   Cây cối xuân tươi, thu não nùng.
                   Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi,
                   Kìa kìa ngọn cỏ giọt sương đông.
Giảng:
Bài kệ này lâu nay trong giới học Phật ai cũng biết và nhiều thuộc. Quí vị là người trong tông môn đã thuộc bài này chưa? Cái hay của hàng tôn túc, chúng ta là con cháu trong tông môn, mà không biết không học đó là một khuyết điểm lớn. Nay tôi trích giảng quí vị học cho thấu đáo để rồi thực hành theo người xưa.
“Thân như điện ảnh hữu hoàn vô/ Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô”. Con người sống được sáu bảy mươi năm cho là dài là trường thọ. Nhưng khi già nhớ lại cuộc đời của mình từ bé đến già, thấy mau như bóng thoáng qua, như làn điện xẹt, qua rồi mất qua rồi mất, tới tuổi già thân này cũng nát luôn, không có gì lâu bền vững chắc cả. Thân này ví như cỏ cây, mùa xuân thì xanh tươi, mùa thu thì héo khô rụng lá. Ý Ngài muốn nói, con người và cảnh vật theo thời gian mà đổi thay còn mất, không có cái gì trường cữu vĩnh viễn. Cuộc đời và cảnh vật chuyển biến vô thường như vậy, Ngài dạy chúng ta có thái độ như thế nào để không trở thành người tiêu cực yếm thế?
“Nhậm vận thịnh suy vô bố úy/ Thịnh suy như lộ thảo đầu phô”. Ngài bảo, mặc cho sự đời hưng thịnh hay suy vong, đừng lo sợ. Vì việc thịnh suy của cuộc đời chẳng khác nào hạt sương đọng trên đầu ngọn cỏ. Sáng sớm sương đọng óng ánh trên đầu ngọn cỏ, mặt trời lên ánh nắng chiếu rọi, sương khô từ từ rồi mất. Như vậy tất cả cái được cái có hiện giờ, theo thời gian rồi sẽ mất không lâu dài, không bền chắc. Thế mà chúng ta hễ gặp thịnh thì vui, gặp suy là buồn.
Cuộc đời vốn là vậy, thịnh hay suy tùy theo duyên, chẳng có gì đáng sợ. Vì giá trị của cuộc đời là con người, chứ không phải cảnh vật. Con người là chủ có tri giác, khôn ngoan là quan trọng. Thế mà chủ (thân) giữ còn không được, huống gì cảnh vật còn mất làm sao giữ? Chuyện mất còn của cảnh vật chỉ là lẽ thường. Nhiều khi chúng ta quên mình bệnh sắp chết, cứ nhớ tiền của còn hay hết, nhớ của hơn là nhớ mình. Có ai khờ như vậy không? Cứ lo tiền của, lo sự nghiệp mà không nhớ lo cho bản thân mình. Thậm chí có nhiều người đem thân liều chết để được tiền của. Như vậy là khôn hay khờ? Thế mà có những người dấn thân vào cái chết, để được tiền của một cách đáng thương. Nếu thấy rõ cuộc đời từ thân cho đến cảnh vật là một dòng biến chuyển đổi dời, có lúc thịnh, có lúc suy, không dừng trụ, không cố định một chỗ, chỉ là lẽ thường của cuộc đời thì mình cũng xử sự theo cái thường, không buồn lo, không sợ hãi. Được vậy thì cuộc sống lúc nào cũng an vui. Còn nếu lo sợ thì xử sự không bình thường, lúc nào cũng lo, lo cho cái thân già bệnh chết, lo cho cảnh vật còn mất... Cứ thế mà lo mãi, tới chết cũng chưa hết lo, thật là khốn khổ. Đó là cái bệnh si mê của người không hiểu đạo.
Bốn câu thơ này Ngài dạy cho chúng ta thái độ sống an bình. Nếu chúng ta thấy các pháp đúng như thật thì dù cho cuộc đời có biến chuyển thịnh suy gì đi nữa, chúng ta vẫn an nhiên tự tại không buồn khổ. Đó là nói theo tinh thần của bài kệ. Nếu thấy rộng hơn nữa thì cuộc đời có vô thường, mới có vui có buồn. Như vừa rồi tôi đi Úc, tôi sửa soạn về, các Phật tử bên ấy nói: “Mau quá! Thầy mới qua nay lại về!”. Tôi nói: “Cuộc đời vô thường, nhờ vô thường nên thầy lại trở về”. Nhờ vô thường nên vui một chút, nhờ vô thường cũng có buồn một chút. Biết vô thường thì thôi, vô thường đều là chuyện tốt. Thân này khi mới sinh ra nặng tối đa là bốn kílô, nhờ vô thường biến chuyển từ nhỏ tới lớn nặng năm sáu chục kílô. Nếu cố định không biến chuyển thì giờ này chúng ta vẫn nằm trong nôi, cựa quậy chòi đạp chứ không làm được việc gì. Nhờ vô thường nên mới khôn lớn, chuyển biến hết thời kỳ tăng tới thời kỳ giảm, thân già bệnh từ giã cõi đời này, qua cõi đời khác mới hơn, vui hơn. Bỏ thân cũ kỹ già bệnh, được thân mới khỏe mạnh là vui. Giống như chiếc xe cũ không còn xài được bỏ đi, nhận chiếc xe mới tốt hơn thì vui chứ có gì mà sợ!
Cuộc đời là một dòng vô thường chuyển biến không dừng, thế mà chúng ta chỉ muốn nó chuyển ở thời kỳ tăng, tức là chuyển tới ba bốn mươi tuổi ngừng ngang đó, không muốn chuyển ở thời kỳ giảm, chuyển tới sáu bảy mươi tuổi thì buồn. Tội nghiệp các cụ già, ngồi lại thì kể chuyện trai tráng của thời oanh liệt, ít khi kể chuyện của tuổi già như nhổ cái răng đau, ăn cơm bị nghẹn nuốt không xuống... Như vậy là muốn chuển tốt chứ không muốn chuyển xấu, chuyển xấu thì sợ lắm, không dám nhìn thẳng. Đó là tướng trạng vô thường của nội thân và ngoại vật.
Giờ đây nói đến biến chuyển của tâm niệm, tâm niệm của con người sinh diệt từng sát na, vừa khởi lại diệt. Nhờ có biến chuyển nên từ con người háo danh tham lợi, chúng ta từ bỏ trở thành người cao thượng xem thường lợi danh. Nhờ có biến chuyển mà từ con người phàm vươn lên thành Thánh. Nếu không có biến chuyển thì con người ù lì không tiến bộ, và cũng chẳng cần tu sửa. Như vậy biến chuyển có dở mà cũng có hay. Hiểu lý vô thường rồi, chúng ta khéo xoay chiều cho nội tâm chuyển hướng theo chiều tốt thánh thiện, không cho chuyển theo chiều thấp hèn phàm tục. Nếu chúng ta biết được sự chuyển biến của thân tâm và cảnh vật, chúng ta sống đời tự tại an nhiên, không lo sợ trước mọi đổi thay của thế sự. Ngược lại thì chúng ta cũng buồn, cũng sợ như người thế gian không khác, vậy thì chúng ta có tu hành gì?
2. Bài kệ “Hữu không” của Thiền sư Từ Đạo Hạnh:
Thiền sư Đạo Hạnh tục danh là Từ Lộ, ở làng Yên Lãng, không biết năm sinh, tịch năm 1115, đời thứ 12 dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Tiểu sử của Ngài in trong quyển “Thiền sư Việt Nam” trang 103 cùng tác giả. Sau đây là giai thoại Ngài giáo hóa tăng chúng:
Khi Ngài trụ trì chùa Thiên Phước ở núi Phật Tích, tăng chúng tìm đến tham vấn. Có vị tăng hỏi:
Đi đứng nằm ngồi thảy đều Phật tâm, thế nào là Phật tâm?
Ngài nói kệ đáp:
bai6p197
Âm:
          Tác hữu trần sa hữu,
          Vi không nhất thiết không.
          Hữu không như thủy nguyệt,
          Vật trước hữu không không.
Dịch:
          Có thì muôn sự có,
          Không thì tất cả không.
          Có, không trăng đáy nước,
          Đừng mắc có cùng không.
Dịch thơ:
Có thì có tự mảy may,
Không thì cả thế gian này cũng không.
Có, không bóng nguyệt dòng sông,
Ai hay không có, có không là gì.
Giảng:
Lúc Ngài ở chùa Thiên Phước là lúc Ngài ra giáo hóa rồi, nên mới có vị tăng hỏi: “Đi đứng nằm ngồi thảy đều Phật tâm, thế nào là Phật tâm? Ngài bèn dùng kệ đáp:
“Tác hữu trần sa hữu/ Vi không nhất thiết không”. Có thì muôn sự có, không thì tất cả không. Nếu chúng ta thấy có thì tất cả  bụi cát cái gì cũng có hết. Nếu nói không thì tất cả, đều là không. Hai câu này hơi khó hiểu nên Ngài đưa ra ví dụ cụ thể:
“Hữu không như thủy nguyệt/ Vật trước hữu không không”. Có không trăng đáy nước, đừng kẹt vào có và không. Nhìn mặt trăng dưới đáy nước, chúng ta cho là có hay không? - Không có mặt trăng thật, chỉ có bóng hiện trong nước, cho nên chúng ta đưa tay nắm bắt không được. Cũng vậy, hiện giờ chúng ta thấy người, thấy cảnh, thấy thiên hình vạn trạng đều là tướng tạm bợ giả dối không có thật thể, nếu nói có thì chỉ có những cái tạm bợ giả dối mà thôi. Qua ví dụ bóng trăng đáy nước, chúng ta hiểu được ý nghĩa có và không thật rõ ràng. Đứng xa nhìn thấy bóng trăng thì không thể nói là không, mà đến gần đưa tay sờ nắm thì toàn là nước chẳng có mặt trăng nào cả. Ví dụ này cho chúng ta thấy sự vật chỉ có giả tướng ảo ảnh mà không có thật thể. Thế nên người đạt đạo nhìn sự vật biết không có thật, còn người mê lầm nhìn sự vật cho là có thật. Ngài nhìn sự vật đúng lẽ thật thấu suốt lý trung đạo, nên nói “đừng kẹt vào có và không”. Nếu chấp có và không thì sinh ra bất đồng ý kiến, đưa đến bất hòa với nhau. Ví dụ người này nói các pháp không có thật thể, đó là đứng về mặt thể tính mà nói thì đúng, người khác đứng về mặt sự tướng thì nói các pháp có thật, hai người cãi nhau. Vậy ai đúng, ai sai? Đúng, sai chưa ra lẽ nhưng đã cãi nhau là thiệt thòi rồi. Thế nên chúng ta hiểu cho tường tận, các pháp có mà hư dối tạm bợ, nhưng thật thể thì không. Đó là lẽ thật từ xưa nay.

(Phạm Hùng, sưu tầm và hiệu đính)