13 tháng 6, 2019

TRIẾT LÝ TRONG "TÂY DU KÝ" (1986)


KỲ IV: Ý NGHĨA THỰC SỰ ĐẰNG SAU HÌNH TƯỢNG CỦA 5 THẦY TRÒ ĐƯỜNG TĂNG
Năm xưa, Đường Tăng sang Tây Trúc thỉnh kinh, trên đường đi thu nạp 4 đồ đệ: Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Sa Ngộ Tĩnh và ngựa Bạch Long Mã. Tại sao lại là 4 chứ không phải là một con số khác?
Mở đầu Tây Du Ký, tác giả Ngô Thừa Ân viết: “Dục trị tạo hóa hội nguyên công, tu khán Tây Du thích ách truyện”, nghĩa là muốn biết công của tạo hóa ra sao, muốn hiểu được ý nghĩa của đời người thế nào, vậy cần phải hiểu Tây Du Ký.
Năm xưa, Đường Tăng sang Tây Trúc thỉnh kinh, trên đường đi thu nạp 4 đồ đệ: Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Sa Ngộ Tĩnh và Bạch Long Mã. Sau 81 kiếp nạn sinh tử, thầy trò Đường Tăng thăng giá Linh Sơn bái kiến Phật Tổ Như Lai.
Sau này, Đường Tăng và Tôn Ngộ Không đắc đạo thành Phật, Bạch Long Mã giữ chức Bát Bộ Thiên Long, Sa Ngộ Tĩnh và Trư Bát Giới giữ chức vị La Hán và Sứ giả.
Hoá ra, thực chất 5 sinh mệnh ấy chỉ là một người hay còn được gọi là Ngũ vị nhất thể.
Mỗi nhân vật từ Đường Tam Tạng đến con ngựa Bạch Long đều biểu trưng cho một đặc tính thường thấy của thân và tâm trong mỗi người chúng ta trên hành trình hoàn thiện bản thân.
Đường Tăng - tình cảm, thể xác của con người
Theo diễn biến trong Tây Du Ký, Đường Tăng quả thật có thân thế bất phàm. Kiếp trước của Đường Tăng nguyên là Kim Thiền Tử - đồ đệ thứ hai của Phật Tổ Như Lai.
Bởi người này không nghe giảng Pháp, khinh mạn lời giảng Đạo, cho nên đã bị Đức Như Lai đày đọa chuyển sinh nơi Đông Thổ.
Cho dù có là học trò, đệ tử của Phật Tổ thì khi phạm Phật quy, phạm tội tày đình vẫn phải chịu phạt như người thường.
Kim Thiền Tử bị đọa sang Đông Thổ Đại Đường liền bắt đầu trải qua kiếp nạn. Cậu bé vừa mới sinh ra đời thì cha đã bị giết, mới vừa đầy tháng mẹ đã phải thả cậu lên bè trôi sông, suýt chút nữa thì bị chết đuối.
Lớn lên đi tìm họ hàng chẳng hề dễ dàng, về sau trên con đường tu luyện tìm chân kinh phải trải qua muôn ngàn sóng gió, hết tai này đến nạn kia.
Mỗi khi gặp khó nạn chỉ cần trong tâm thoáng có niệm không chính, tâm cầu phật có một chút “lung lay” thôi thì mọi công sức đều đổ bể, hơn nữa lại còn có thể bị nguy hiểm đến tính mạng.
Trên đường đi, Kim Thiền Tử - Đường Tăng thu nạp 4 đệ tử: Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Sa Ngộ Tĩnh, Bạch Long Mã. Bốn thầy trò Đường Tăng kiên định tâm cầu Phật pháp, trải qua 81 nạn mới trở về lại được thế giới Phật.
Thật ra Tây Du Ký chỉ là câu chuyện mượn lý do thỉnh kinh để giãi bày đạo lý làm người, dùng hư cấu văn chương để răn đe người đời tính thiện nhân và tu dưỡng tâm tính.
Ai trong chúng ta cũng đều có thể là một Đường Tăng. Đều là thể xác, có những điểm mạnh và điểm yếu, tuy có lúc kiên định nhưng cũng có lúc u mê nhu nhược.
Trong đó, Tôn Ngộ Không là tượng trưng cho cái tâm, Đường Tăng là thân thể, Trư Bát Giới là tình cảm và dục vọng, Sa hòa thượng là bản tính và Bạch Long Mã là ý chí của con người.
Tôn Ngộ Không - Tâm của con người 
Tôn Ngộ Không là con khỉ đá thác sinh do Trời - Đất, được thiên địa hoá dục mà thành, vốn sinh ra đã mang sẵn tinh hoa của đất trời.
Bẩm sinh căn cơ tốt phi thường, sớm ngộ lẽ vô thường, tầm sư học Đạo, trở thành một Thái Ất kim tiên. Được Thượng Đế sắc phong làm Tề Thiên Đại Thánh, ngao du khắp chân trời góc biển, hưởng phúc lành cõi thần tiên.
Chỉ vì sinh lòng ngông ngạo, Tôn Ngộ Không đã đại náo thiên cung, bị Phật Tổ phạt giam dưới núi Ngũ Hành 500 năm, “đói thì cho ăn viên sắt, khát cho uống nước rỉ đồng”. Sau gặp Đường Tăng nguyện ý từ bỏ dục vọng thành tâm đi theo con đường Phật pháp.
Người Trung Hoa có câu: “Tâm viên ý mã” (tâm con khỉ, ý con ngựa), nghĩa là tâm trí con người ta thường xáo động và dễ mất kiểm soát. Vì thế, Tôn Ngộ Không chính là đệ tử của trái tim, đại diện cho chữ Tâm của người tu hành. Trái tim ấy liên tục cử động không yên, tự do tung hoành giữa trời đất đầy những chuyện thiện - ác lẫn lộn.
Vì vậy, về sau này Quan Âm Bồ Tát đã phải tặng cho Đường Tăng chiếc vòng kim cô và bài “Khẩn cô nhi chú” để khắc chế cái tâm này với Tôn Ngộ Không.
Trong chuyến hành trình đi tìm chân kinh, duy chỉ có Ngộ Không thật sự từ bỏ ma tâm để sống với thiện tâm, một lòng học Đạo, phò tá sư phụ Đường Tăng, trừ gian diệt ác, lấy lại lẽ phải, công bằng để cuối cùng đạt đến cảnh giới cần có để trở thành một vị Phật.
Tu thành chính quả, trên núi Linh Sơn, Đức Như Lai đã tấn phong: “Tôn Ngộ Không, nhà ngươi phò Đường Tăng dọc đường trừ ma diệt ác có công, sau trước vẹn tròn, gia phong người chức Đấu chiến thắng Phật”.
Còn một lẽ nữa, những ai theo dõi kỹ Tây Du Ký đều biết Tôn Ngộ Không chu du khắp bốn biển tìm tiên cầu Đạo, cuối cùng trở thành đệ tử của Bồ Đề Tổ Sư trên núi Linh Đài Phương Thốn, động Tà Nguyệt Tam Tinh.
Thực chất Tà Nguyệt Tam Tinh chính là chữ “Tâm”. Vậy nên, ngụ ý sâu xa rằng Tôn Ngộ Không là thể hiện cho chữ Tâm của người tu hành.
Trong Kinh Lăng Nghiêm còn viết rằng Tâm có 72 tướng, tương ứng với 72 phép biến hóa của Ngộ Không. Cái tâm của người đời rất giỏi biến hóa, chỉ trong chốc lát có thể biến ra các loại tâm thái khác nhau. 
Luyện tâm có thể khiến lòng người sáng sủa, trí tuệ sáng suốt, vậy nên lò Bát Quái luyện đan của Thái Thượng Lão Quân không thể thiêu chết mà trái lại còn khiến Tôn Ngộ Không luyện thành Hỏa nhãn kim tinh.
Bạch Long Mã - ý chí con người
Bạch Long Mã gốc tên là Quảng Tấn, con trai của Tây Hải Long Vương, ngày trước là Tam Thái Tử của Tây Hải Long Cung, là một người khôi ngô tuấn tú, song vì làm hỏng báu vật mà Ngọc Hoàng Thượng đế ban tặng nên bị đày tội chết. Sau này, Quan Thế Âm Bồ Tát đã cho phò giá Đường Tăng để chuộc lại những lỗi lầm đã gây ra.
Khi phò giá Đường Tăng, Tây Hải Long Vương Tam Thái Tử là một con ngựa, rất ít khi cùng các sư huynh tham gia chiến đấu với yêu quái, duy chỉ trong trận Hoàng bào quái là một lần hiếm hoi ông tham gia chiến đấu và báo cho Trư Bát Giới biết Đường Tăng đã bị Hoàng bào quái biến thành hổ.
Tây Hải Long Vương Tam Thái Tử do có công lao cõng Đường Huyền Trang, phụ giúp các sư huynh trên đường đến Tây Thiên nên được phong làm Bát Bộ Thiên Long.
Bạch Long Mã là đại diện cho ý cuối cùng của Ngũ vị nhất thể - Tâm viên ý mã.
Cái Tâm đã là Tôn Ngộ Không thì cái Ý là Bạch Long Mã. Cái Ý ở đây chính là ý chí, sự quyết tâm tiến về phía trước không lùi lại.
Cũng bởi con ngựa này luôn tiến về phía trước mới có thể chở được Tam Tạng tới Tây Phương. Bạch Long Mã thường được coi là em út trong đoàn, nhưng tác giả vẫn cho Bạch Long gặp Đường Tăng và Tôn Ngộ Không trước cả Bát Giới và Sa Tăng.
Bởi muốn đi tiếp thì cần phải “Tâm Ý hợp nhất”, Tôn Ngộ Không chính là người thu phục Bạch Long Mã, tức là tâm ý đã hợp nhất, đồng lòng tiến lên.
Cái ý chí tiến lên còn phụ thuộc vào cái tâm, phải “toàn tâm toàn ý” mới có thể chuyên tâm tu hành, tiếp tục tu hành không lùi bước.
Trư Bát Giới - dục vọng, sân si của con người
Trư Bát Giới lúc đầu giữ chức Thiên Bồng Nguyên Soái ở Thiên Đình, là người chỉ huy hơn 8 vạn thủy binh ở Thiên Đình.
Cùng với men say của rượu, Bát Giới đã tán tỉnh Hằng Nga, không những thế Thiên Bồng Nguyên Soái còn tới phủ của Hằng Nga để trêu ghẹo nàng. Quá tức giận, Hằng Nga đã tâu với Ngọc Hoàng, Ngọc Hoàng tức giận đày Thiên Bồng Nguyên Soái xuống hạ giới.
Trong lúc say, xuống cửa trần đầu thai, Thiên Bồng Nguyên Soái ngã nhầm vào cửa lợn, hóa kiếp thành con lợn ở dương gian.
Quan Thế Âm Bồ Tát đặt tên cho Thiên Bồng Nguyên Soái là Trư Ngộ Năng triết tự là: Chữ “Trư” nghĩa là lợn, tượng trưng cho dục vọng của người tu luyện; còn chữ “Năng” nghĩa là tài năng, bản lĩnh, và khả năng. Trư Ngộ Năng có nghĩa là “con lợn (tái sinh) ngộ ra khả năng của mình” để ám chỉ việc Bát Giới luôn tự đánh giá mình quá cao mà quên mất mình mang một hình hài kinh khủng.
Trư Bát Giới vốn là hạng phàm phu tục tử, biếng lười trụy lạc, loạn tính dâm tòng. Xuất phát điểm như thế, nên Bát Giới trong quá trình tu luyện cũng phải đối mặt với hết thảy mọi nhân tâm và dục vọng. Trên đường đi lấy kinh, Bát Giới đã gặp rất nhiều phiền toái, vô cùng nguy hiểm chỉ vì tham ăn, tham ngủ. Nếu không có sự ngăn cản, trợ giúp của Tôn Ngộ Không thì Trư Bát Giới sớm đã trở thành “món ngon” trong miệng bầy yêu quái.
Cũng chính vì không giữ đạo hạnh, buông thả nhân tâm, nên Bát Giới khó có thể phát huy các thần thông vốn có của mình, lại thường hay thoái lui trong các cuộc trừ yêu diệt quái.
Nhưng Trư Bát Giới lại có tính tham công lao, luôn lấy công lao của người khác ghi tạc thành công lao của bản thân. Mỗi khi gặp yêu quái ngăn trở, ngay cả Tôn Ngộ Không cũng không có kế thì Trư Bát Giới luôn áng chừng phần của cải của mình trong đoàn và nhớ kỹ rồi sau đó chạy lấy người.
Không chỉ mang hình hài “nửa lợn, nửa người”, mà ở Bát Giới còn hội tụ đầy đủ nhân tâm và những thứ dục vọng của người thường, như lười biếng, tham ăn, háo sắc, lại hay ghen tị và thích đặt điều nói xấu huynh trưởng đồng môn.
Trên đường đi lấy kinh, núi cao, nước sâu lại có vô vàn khổ nạn giữa đường. Mỗi khi gặp khó khăn, khổ nạn, Trư Bát Giới lại dễ dàng đòi rút lui, nửa đường bỏ cuộc. Hay nói theo cách khác, vì căn cơ kém cỏi nhất, nên yêu cầu dành cho Bát Giới chỉ dừng lại ở “Ngộ Năng” và “Bát Giới”, cũng tức là cần gìn giữ giới luật, tu chính nhân tâm, mới có thể bước vào hàng sa môn.
Sa Ngộ Tĩnh - bản tính và sự nhẫn nại của con người
Sa Tăng vốn là Quyển Liêm đại tướng trên thiên đình, chỉ vì nhỡ tay làm vỡ chiếc cốc lưu ly mà bị Ngọc Hoàng đày xuống làm yêu quái ở Lưu Sa Hà nơi hạ giới, chuyên làm hại dân lành và đòi ăn thịt trẻ con.
Trong Thi thoại Đường Tam Tạng thỉnh kinh được viết trước khi tác phẩm Tây Du Ký ra đời, Sa Tăng từng nói với Tam Tạng pháp sư: “Dưới cổ ta là những đầu lâu của người mà ta đã từng ăn thịt”.
Và đó chính là mạng sống của 9 hoà thượng trước đó - cũng chính là 9 kiếp trước của Đường Tăng. Về sau, nhờ sự giúp sức của Bồ Tát mà chính Đường Tăng lại cảm hoá được Sa Tăng ở kiếp thứ 10.
Sau khi trở thành đồ đệ của Đường Tăng, Sa Ngộ Tĩnh đã từ bỏ được rất nhiều ma tính của mình trong quá khứ. Ngộ Tĩnh dắt ngựa, mang hành lý, làm việc rất cực nhọc và không tỏ ra giận dữ khi bị phê bình. Vị đồ đệ này đã theo sư phụ của mình một cách kiên định trong suốt cuộc hành trình tới khi đến đích.
Pháp danh của Sa Tăng vì thế là Ngộ Tĩnh: Tĩnh để mà khắc chế cái động, cái chưa thanh tịnh; tĩnh để mà kham nhẫn, chịu đựng.
Vượt qua bao nhiêu khó khăn, trở ngại tượng trưng bằng 81 kiếp nạn, người quyết chí tu hành mới hoàn thiện chính mình và giác ngộ.

(PH sưu tầm và biên chỉnh)

TRIẾT LÝ TRONG "TÂY DU KÝ" (1986)


KỲ III: TRONG TÂY DU KÝ, ÁO CÀ SA VÀ TÍCH TRƯỢNG CỦA ĐƯỜNG TĂNG ĐẮT GIÁ NHƯ THẾ NÀO?
Cho đến ngày nay, nhiều người vẫn thắc mắc về giá trị thực của chiếc áo cà sa gấm và tích trượng cửu vàng của Đường Tăng trong Tây Du Ký.
Thực chất, vật quý báu nhất trên đời trong tay Đường Tăng đó là áo cà sa gấm và tích trượng cửu hoàn của Đức Như Lai.
Trong giới tu hành, áo cà sa tượng trưng cho sự khiêm tốn, khổ hạnh, giản dị nhất trên đời. Và chiếc áo cà sa cũng nhắc nhở các vị tu hành về tấm thân vô thường của họ trên thế gian.
Nhớ khi xưa, theo truyền thống Phật giáo, các nhà sư phải tự đi nhặt những mảnh vải vụn, những tấm khăn đắp rồi đem về tự mình nhuộm màu, chắp nối và may lấy áo để mặc. Bởi vậy, chiếc áo cà sa mới mang hình của các mảnh vải vụn được ráp nối với nhau.
Gậy tích trượng là một trong 18 món đồ vật của nhà sư. Tích trượng còn có tên là Đức trượng, nghĩa là chiếc gậy trí huệ và đức độ, theo suốt người xuất gia học đạo giải thoát, tu thành chính quả.
Cà sa là áo giáp chở che, tích trượng để thêm sức cho đôi chân vững vàng trụ lập. Cà sa và tích trượng ấy chính là đạo đức chân chính của con người. Có đạo đức, con người đủ khả năng tự phòng thủ, tự bảo vệ mình khỏi sa chân vào tội lỗi lạc lầm, tránh xa được sự trừng phạt của ngục hình.
Trong Tây Du Ký, không khó để nhận ra chiếc áo cà sa và tích trượng của Đường Tăng được liệt vào trong danh sách những bảo vật xưa nay hiếm, người trần thèm muốn, yêu ma nảy lòng tham, đến những vị Thần tiên cũng trầm trồ muốn được sở hữu.
Chiếc áo cà sa và tích trượng cửu hoàn trong phim Tây Du Ký không chỉ có giá trị về vật chất mà hơn hết nó mang một ý nghĩa vô cùng sâu sắc.
Quan Âm Bồ Tát y lời Phật Tổ cầm áo cà sa và tích trượng hạ phàm trong thân xác của lão hoà thượng đến Đông thổ Đại Đường. Nhìn thấy Đường Tăng giảng pháp ở kinh thành bèn lớn tiếng: “Áo cà sa, gậy tích trượng quý. Ai hiểu vật quý, ta xin biếu. Kẻ không hiểu ngàn vàng cũng không bán”.
Thấy ngạc nhiên, vua Thái Tông liền hỏi vị hoà thượng 2 bảo vật này tại sao lại đắt giá đến vậy. Vị hoà thượng chậm rãi rằng: “Thưa bệ hạ, áo cà sa giá 5.000 lạng, gậy tích trượng giá 2.000 lạng. Áo cà sa này được làm từ tơ con tằm nhả trong băng, được các tiên nga thêu dệt. Trên áo có nhiều báu vật, mặc tấm áo cà sa này không bị đắm chìm trong địa ngục, ngồi thì được vạn Thánh kính chào, đi thì được 7 Đức Thánh Phật tháp tùng. Mặc tấm áo cà sa của ta thì không bị đắm chìm, không sa địa ngục, không gặp tai ương ác độc, không bị hoạn nạn sói lang”.
Nếu sở hữu 2 thứ này, bất kỳ ai cũng có thể tránh bị rơi trong vòng xoáy đầu thai luân hồi (nghĩa là trường sinh) và không bị độc dược làm hại.
Không chỉ vậy, nói về 2 vật báu này, đích thân Phật Tổ Như Lai dặn dò trước đó rằng: “Tấm áo cà sa và cây gậy này đưa cho người lấy kinh dùng. Nếu người ấy mặc tấm áo cà sa của ta sẽ có thể miễn được vòng luân hồi, giữ chiếc trượng này có thể không bị độc hại”.
Sau khi nhận áo và tích trượng, Đường Thái Tông sai người đem ngân phiếu cho vị hoà thượng, ông liền từ chối rằng: “Tâu bệ hạ, bần tăng đã nguyện từ trước, nếu gặp người đức hạnh, lại tinh thông phật lý thì xin nguyện biếu không. Nay gặp bệ hạ tôn kính phật môn, cao tăng đức độ thông hiểu đại pháp đương nhiên phải biếu không rồi”.
Rồi quay sang hỏi Đường Tăng: “Chẳng hay pháp sư có giảng kinh Đại thừa phật pháp. Kinh Tiểu thừa chỉ làm con người sống trong sáng hơn thôi. Ta có một bộ Đại thừa Phật Pháp siêu độ người chết thăng thiên, cứu vớt người hoạn nạn, cởi bỏ cõi vô thường trăm năm, tiêu trừ tai hoạ, được để ở đất Phật Tây Thiên cách thành Lạc Dương 1 vạn 800 dặm. Người dám đi sẽ thành chín quả, sẽ được lên Tiên giới”.
Nghe vậy Đường Huyền Trang thành khẩn rằng: “Đã vậy, đệ tử xin dành chút sức mọn lấy được chân kinh, cầu cho giang sơn của bệ hạ vững bền hơn. Đệ tử đã nguyện ra đi nhất định phải đến được Tây Thiên, nếu không lấy được chân kinh nhất định không trở về”.
Đường Thái Tông Lý Thế Dân nghe vậy xúc động nói: “Nếu pháp sư đã nguyện làm vậy, trẫm nguyện trở thành huynh đệ với pháp sư”.
Quan Âm Bồ Tát bán áo cà sa và pháp trượng, người vô duyên bán 7.000 lượng vàng, người hữu duyên có thể cho không. Đó chính là duyên phận - một vật chất vô hình không có tiền nào mua được. Duyên cũng có thiện duyên và ác duyên. Những sự tình giữa người với người thì cũng chỉ là nhân quả luân báo.
(PH sưu tầm và biên chỉnh)

TRIẾT LÝ TRONG "TÂY DU KÝ" (1986)

KỲ II: VÌ SAO ĐƯỜNG TĂNG MẶC ÁO CÀ SA GẤM ĐI TU HÀNH, DÙNG BÁT BẰNG VÀNG ĐỂ ĐỔI CHÂN KINH?
Không phải báu vật áo cà sa gấm, không phải tích trượng cửu hoàn mà chỉ có bát vàng mới đổi được chân kinh trong Tây Du Ký.
Áo cà sa gấm đắt giá trên vai người tu hành
Tây Du Ký 1986 là bộ phim truyền hình được nhiều thế hệ khán giả yêu thích. Cùng với Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới và Sa Tăng, nhân vật Đường Tăng đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người hâm mộ.
Thực chất vật quý báu nhất trên đời trong tay Đường Tăng đó là áo cà sa gấm và gậy tích trượng cửu hoàn của Đức Như Lai.
Phật Tổ Như Lai đã từng nhắc rằng: “Cà sa là áo giáp chở che, tích trượng để thêm sức cho đôi chân vững vàng trụ lập. Cà sa và tích trượng ấy chính là đạo đức chân chính của con người. Có đạo đức, con người đủ khả năng tự phòng thủ, tự bảo vệ mình khỏi sa chân vào tội lỗi lạc lầm, tránh xa được sự trừng phạt của ngục hình”.
Cho nên, khi Phật Tổ Như Lai sai A Nan và Ca Diếp mang áo cà sa gấm và tích trượng chín vòng trao cho Quan Âm Bồ Tát, đã dặn dò rằng: “Tấm áo cà sa và cây gậy này đưa cho người lấy kinh dùng. Nếu người ấy mặc tấm áo cà sa của ta sẽ có thể miễn được vòng luân hồi, giữ chiếc trượng này có thể không bị độc hại”.
Và khi ở kinh thành Trường An, giải thích chỗ quý báu của cà sa, Quan Âm Bồ Tát cũng bảo: “Mặc tấm áo cà sa của ta thì không bị đắm chìm, không sa địa ngục, không gặp tai ương ác độc, không bị hoạn nạn sói lang”.
Nếu sở hữu 2 thứ này, bất kỳ ai cũng có thể tránh bị rơi trong vòng xoáy đầu thai luân hồi (nghĩa là trường sinh) và không bị độc dược làm hại.
Trong Tây Du Ký, chạm mặt yêu nữ động Tỳ Bà, Đường Tăng sa vào sắc dục. Lúc ấy Đường Tăng như trong cơn mộng du, lảo đảo bước gần tới vòng tay yêu nữ đón mời.
Lúc ấy mảnh cà sa đỏ rực bỗng nhẹ tênh, vuột bay khỏi thân Đường Tăng. Điều ấy chứng tỏ áo vuột rơi rồi, tội lỗi mở cửa chực chờ. Đạo đức mất đi, cái xấu chen vào.
Nhớ năm ấy Quan Thế Âm Bồ Tát trao áo cà sa và tích trượng cho Đường Tăng, nếu không có hai vật báu ấy chắc chắn sẽ không có nạn ở núi Hắc Phong, yêu quái cũng không có cơ hội để ăn trộm báu vật!
Không phải cà sa gấm, không phải tích trượng, mà chỉ có bát vàng mới đổi chân kinh
Vật báu thứ ba chính là bát vàng - tượng trưng cho quyền lực, danh vọng, của cải, tình thân, lòng dũng cảm.
Trước khi Tam Tạng lên đường, Đường Thái Tông Lý Thế Dân đã ban tặng bát làm bằng vàng thật cho Đường Tăng làm quà khởi hành. Đó là vật Đường Tăng quý hơn bất kỳ thứ gì.
Thế nhưng, một vị tu gia khổ hạnh như Đường Tăng lại cầm theo bát vàng trên đường thỉnh kinh, liệu có hợp lý hay không?
Phải nói kỹ rằng, đối với người cầm nã quy Phật, chiếc bát xin của bố thí hàng ngày lại là một trong những vật quý giá nhất.
Đệ tử Phật gia bảo tồn chiếc bát giống như bảo vệ tròng mắt của mình, vì chiếc bát không chỉ tượng trưng cho sự thanh tịnh, tinh khiết của một hành giả xuất gia, chiếc bát còn tượng trưng cho tâm từ bi bao la rộng khắp đối với muôn loài.
Vậy nên với người xuất gia, với Đường Tăng, chiếc bát vàng ở đây nằm ngoài địa hạt vật chất. Nó là tâm đạo của kẻ tu hành.
Gian nan kinh qua, 4 thầy trò đến đất Phật vui mừng vì sắp lĩnh chân kinh, thế nhưng hai vị tôn giả A Nan, Ca Diếp đòi thầy trò Đường Tăng hối lộ cái bình bát bằng vàng mới cho lấy kinh.
Trong truyện có đoạn: “A Nan, Ca Diếp dẫn Đường Tăng xem khắp tên các bộ kinh một lượt, đoạn nói với Đường tăng: Thánh tăng từ phương Đông tới đây, chắc có chút lễ vật gì biếu chúng tôi chăng? Mau đưa ra đây chúng tôi mới trao kinh cho.
Tam Tạng nghe xong nói: Đệ tử là Huyền Trang, vượt đường sá xa xôi, chẳng chuẩn bị được quà cáp gì cả.
Hai vị tôn giả cười nói: Hà hà! Tay trắng trao kinh truyền đời, người sau đến chết đói mất”.
Tại sao đã đạt đến cảnh giới La Hán mà hai vị hai vị tôn giả A Nan, Ca Diếp lại còn có cái tâm tham tiền tài như vậy?
Thực ra, Tam Tạng còn có hai bảo vật của Phật Quan Âm tặng: chiếc cà sa báu và cây tích trượng. Thế thì tại sao lại chỉ dâng cho A Nan chiếc bình bát?
Giáo pháp nhà Phật luôn nhắc đến việc bất kì điều gì cũng có căn nguyên từ trước, không cái gì tự nhiên mà có, cũng không có điều gì là ngẫu nhiên.
Bốn thầy trò thỉnh kinh cũng không phải chuyện ngẫu nhiên, muốn có được kinh Phật cũng không tự nhiên mà có.
Bởi vậy nên khi Hành Giả khiếu nại sự việc bị đòi lễ vật, Phật Tổ cười nói: “Chuyện ấy ta đã hay rồi. Bởi kinh rất quý, không thể lấy một cách dễ dàng. Trước kia Tỉ Khâu từng đem kinh xuống nước Xá Vệ mà tụng cầu siêu cho Triệu Trưởng Giả. Triệu Trưởng Giả cũng chỉ trả công bằng ba đấu vàng cốm của họ ban về. Ta nói họ bán kinh rẻ quá, con cháu đời sau lấy gì mà sống”.
Thế nhưng đằng sau lại có ý nghĩa khác thâm sâu vô cùng.
Chiếc bát vàng của Đường Tăng là của vua Đường Lý Thế Dân tặng cho ngự đệ kết nghĩa - đó là đại diện của tư tình, của cải và danh vọng ở thế gian.
Khi đến đất Phật, hai Phật tử A Nan và Ca Diếp muốn lấy của Đường Tam Tạng chiếc bát chỉ là việc thử lòng Đường Tăng, nhưng khi Đường Tăng không chấp nhận đề nghị này thì số kinh Phật lấy về chỉ là kinh vô tự (kinh không có chữ).
Chân kinh chỉ lấy được khi Đường Tăng buông xả, trao bát vàng cho A Nan và Ca Diếp. Buông xả bát vàng nghĩa là không còn bị ràng buộc với danh vọng và của cải thế tục. A Nan và Ca Diếp đã khai ngộ cho bốn thầy trò Đường Tăng, bằng cách làm cho bốn thầy trò Đường Tăng không còn giữ và cũng không còn vật để giữ.
(PH sưu tầm và biên chỉnh)