13 tháng 6, 2019

TRIẾT LÝ TRONG "TÂY DU KÝ" (1986)


KỲ X: Ý NGHĨA CỦA BỨC BÙA 6 CHỮ VÀNG YỂM TRÊN NÚI GIAM CẦM TÔN NGỘ KHÔNG 500 NĂM
Khi mới bị núi Ngũ Hành đè xuống, với 72 phép thần thông của mình, Tôn Ngộ Không hoàn toàn có thể phá núi chạy trốn. Liệu có phải do lá bùa của Phật Tổ Như Lai trấn hoàn toàn pháp thuật của Tôn Ngộ Không hay không?
Sau khi đại náo thiên cung, Ngọc Hoàng Thượng Đế không thể thu phục được Tề Thiên Đại Thánh nên bèn nhờ cậy Phật Tổ Như Lai. Chỉ có Phật Tổ mới khiến khỉ đá “an phận thủ thường” dưới chân Ngũ Hành Sơn 500 năm.
Sau khi Đại Thánh bị đè dưới núi, Phật Tổ rút từ tay áo một lá bùa chú có 6 chữ vàng đưa cho A Nan và dặn mang đi dán lên đỉnh núi. A Nan vâng lệnh cầm đạo bùa, ra khỏi cửa trời, đến thẳng đỉnh núi Ngũ Hành, dán chặt đạo bùa vào tảng đá bốn cạnh vuông vức. Quả núi tức thì mọc rễ khép liền lại, chỉ để một lỗ thông hơi. Đại Thánh bị quả núi đè chặt, chỉ thở được, và chân tay thò ra cựa quậy được.
Vì có lá bùa ấy, Ngộ Không mới phải chịu 500 năm đày đoạ. Lại cũng vì có lá bùa ấy, mà Đường Tăng mới có thể giải thoát Ngộ Không.
Một lá bùa uy lực như thế, lại được nhắc đến ba lần trong nguyên tác, mà lần nào cũng gắn liền với một dấu mốc trên con đường giác ngộ của Ngộ Không.
500 năm trôi qua, trải qua phong ba tuế nguyệt, lá bùa thần kỳ không bị mục nát, không mất chữ cho đến ngày Ngộ Không chính thức phò giá Đường Tăng sang Tây Thiên thỉnh kinh.
Nhìn thấy Đường Tăng, con khỉ nói: “Trên đỉnh núi có đạo bùa chữ vàng của Như Lai yểm. Ngài lên đó bóc đạo bùa ấy đi là con được thoát”.
Thấy vậy, Đường Tăng trèo lên đỉnh núi, vin cây bám cành trèo lên tới đỉnh, quả nhiên thấy một tảng đá vuông hào quang chói lọi, mây lành rực rỡ, trên tảng đá dán một đạo bùa có sáu chữ vàng. Trên lá bùa là sáu chữ bí ẩn: “Lục tự đại minh chân ngôn” hay còn được biết đến với cái tên “Úm Ma Ni Bát Mê Hồng”, “Om Mani Padme Hum”.
Đây chính là câu chân ngôn cổ xưa do Bồ Tát Quan Âm truyền lại, được ghi chép trong quyển 4 Kinh Đại Thừa Trang Nghiêm của Mật tông Tây Tạng.
6 chữ vàng mang ý nghĩa tu luyện để thăng hoa cảnh giới, đề cao tầng thứ, thành tựu sinh mệnh của chính mình, nhắc nhở con người sinh ra giữa đất trời, đến nơi thế gian ô trọc này, muốn chân chính chỉ có cách tu luyện.
Chúng ta biết rằng, Ngộ Không bị đè dưới Ngũ Hành Sơn cũng giống như sinh mệnh trên thượng giới bị rớt xuống nơi thế gian chịu sự phong toả của Ngũ Hành (Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ) khống chế. Muốn thoát khỏi Ngũ Hành, trở về thiên quốc, thì phải “quy mệnh”, bước trên con đường tu luyện, quay trở về với bản thể của mình.
Trước khi bị đè dưới núi Ngũ Hành, Ngộ Không đã từng tu luyện: Từ Hoa Quả Sơn vân du đi tìm Đạo, cuối cùng gặp được Bồ Đề Tổ Sư, bái làm sư phụ, Ngộ Không đã học được 72 phép biến hoá, âu cũng là đã đạt được một chút thành tựu.
Nhưng dẫu có thần thông quảng đại đến đâu, thì hết thảy cũng chỉ là tiểu năng tiểu thuật, tiêu diêu tự tại trong Tam Giới, vẫn chưa xuất khỏi Ngũ Hành.
Trong truyện nhiều lần gọi Ngộ Không là Thái Ất chân nhân chưa đắc Đạo viên mãn.
Như vậy, câu chân ngôn mang sáu chữ vàng của Như Lai Phật Tổ cũng giống như một lời nhắc nhở dành cho Ngộ Không: Trải qua tháng năm đằng đẵng, cũng đừng quên nguyện ước tu thành. Con nhất định phải tu thành chính quả!
Hay nói theo cách khác, Phật Tổ Như Lai đã an bài mọi sự cho con đường tu luyện sau này của Ngộ Không.
500 năm bãi bể nương dâu, 500 năm phong ba tuế nguyệt, lúc đói phải ăn viên sắt, khi khát phải uống nước rỉ đồng, quả thực là muôn vàn cực khổ, cay đắng không lời.
Đến khi nghiệp chướng trả xong, cũng là lúc Ngộ Không nguyện sẽ “dốc lòng tu hành”, thì khi ấy lá bùa đã làm tròn sứ mệnh của mình, và lại trở về với Đức Như Lai.
Trở lại với Ngộ Không, trong truyện kể rằng Ngộ Không vừa sinh ra đã mang theo linh khí của đất trời, tinh hoa của nhật nguyệt, lại sớm có tâm cầu Đạo. Lên rừng, xuống bể, lội suối, trèo đèo, lại phải lênh đênh trên biển cả, qua biết bao năm tháng dày công khổ luyện, ấy vậy mà cuối cùng vẫn phải trầm luân nơi nhân thế. Mãi đến khi phò giá Đường Tăng, quy y theo giáo lý nhà Phật, lúc ấy mới thực sự là viên mãn hồi thiên.
(PH sưu tầm và biên chỉnh)

TRIẾT LÝ TRONG "TÂY DU KÝ" (1986)


KỲ IX: KHÔNG PHẢI ĐƯỜNG TĂNG HAY BỒ ĐỀ TỔ SƯ, SƯ PHỤ THỰC SỰ CỦA TÔN NGỘ KHÔNG LÀ AI?
Tác phẩm Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân từng được xếp vào một trong “tứ đại danh tác” của văn học Trung Quốc. Và một trong những nhân vật trung tâm của bộ tiểu thuyết ấy chính là Tề Thiên Đại Thánh Tôn Ngộ Không.
Phàm là những ai từng đọc qua Tây Du Ký đều cho rằng, sư phụ chân chính của Tôn Ngộ Không là Bồ Đề Tổ Sư - người truyền dạy 72 phép biến hóa. Có một số ý kiến lại khẳng định, Đường Tăng mới là người thầy chân chính của Đại Thánh, vì vị cao tăng ấy đã giúp Ngộ Không giác ngộ nhiều đạo lý. Thế nhưng kỳ thực vị sư phụ đích thực của Tôn Ngộ Không lại không phải là ai trong hai nhân vật này.
Nếu là những “đệ tử ruột” bộ tiểu thuyết Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân đều cho rằng, sư phụ chân chính của Tôn Ngộ Không chính là Bồ Đề Tổ Sư - người truyền dạy 72 phép biến hóa.
Bồ Đề Tổ Sư trong Tây Du Ký ẩn cư tại Tây Ngưu Hạ Châu, ở trong Linh Đài Phương Thốn sơn, Tà Nguyệt Tam Tinh động. Linh Đài Phương Thốn sơn gọi tắt bằng chữ đầu và chữ cuối là “Linh sơn”, “Tà Nguyệt Tam Tinh” chính là vật trên thiên thượng, ám chỉ “bầu trời”. Hợp nhất chúng lại chính là: Thiên Thượng Linh Sơn.
Tổ sư Bồ Đề hẳn là cũng sớm biết được căn cơ của Hầu vương không tầm thường nên cũng đã cố ý đưa ra mấy thứ thuật loại tiểu đạo kia để thử lòng. Khi Ngộ Không từ chối không học, Tổ Sư cũng tỏ vẻ giận dữ vô cùng. Tây Du Ký kể rằng: “Tổ Sư nghe đoạn, hừ một tiếng, từ trên đài cao nhảy xuống, tay cầm gậy giới xích, chỉ vào Ngộ Không nói:
- Loài khỉ già kia, đạo này không học, đạo kia không học, còn đòi học cái gì?
Rồi đi đến gõ đầu Ngộ Không ba cái, quay lưng giơ tay đi thẳng vào trong, đóng cửa giữa lại, bỏ mọi người ở ngoài”.
Bề ngoài thì là giận dữ, nhưng trong lòng Tổ Sư sớm đã chọn Ngộ Không là đệ tử chân truyền. Việc ông cho Ngộ Không mấy gậy “bổng hát” chính là điểm hóa mà trừ Hầu vương ra thì chẳng một ai có thể hiểu.
Bởi Bồ Đề Tổ Sư chỉ truyền dạy cho Ngộ Không vài món pháp thuật, chứ không dạy học trò của mình tâm pháp, cách tu tâm dưỡng tính. Hơn nữa, bản thân Bồ Đề Tổ Sư cũng từng cự tuyệt việc thừa nhận Tôn Ngộ Không làm đồ đệ cũng như rũ bỏ mối quan hệ sư đồ.
Tiểu thuyết Tây Du Ký có đoạn Bồ Đề Tổ Sư cự tuyệt Ngộ Không khi Ngộ Không không lĩnh hội được những đạo nghĩa ở đời ông truyền dạy.
Tôn Ngộ Không mắt ngấn lệ hỏi: “Sư phụ, người bảo con phải đi nơi nào?”
Tổ Sư trả lời: “Ngươi tới từ nơi đâu thì trở về nơi đó là được. Dù ngươi có gây họa cũng không được phép nói là học trò của ta. Nếu ngươi nói ra nửa chữ để ta biết được, ta nhất định sẽ đem con khỉ nhà ngươi lột da, róc xương, đem thần hồn giáng vào Cửu U, để ngươi vạn kiếp không thoát thân được”.
Khi đó, Ngộ Không vô cùng sợ hãi mà cam đoan: “Con tuyệt đối sẽ không nhắc một chữ tới người”.
Vì tự tay cắt đứt quan hệ sư đồ nên Bồ Đề Tổ Sư không được coi là “người thầy đầu tiên” của Tôn Ngộ Không.
Phật Tổ Như Lai mới là sư phụ chân chính
Năm xưa khi Tôn Ngộ Không đại náo thiên cung, Ngọc Hoàng đã từng phải cầu cứu Phật Tổ Như Lai.
Bấy giờ, Phật Tổ nghe nói Ngộ Không muốn làm chủ thiên cung, liền cười mà bảo: “Ngươi chính là con khỉ thành tinh muốn đoạt tôn vị của Ngọc Hoàng đại đế sao? Ngọc Hoàng tu trì từ nhỏ, khổ sở trải qua 1750 kiếp nạn, mỗi kiếp dài 129.600 năm, phải chịu khổ ải bao năm mới có thể ngồi lên ngai vị này.
Ngươi ra đời chỉ là một con yêu quái, sao dám lớn tiếng đòi hỏi như vậy? Thừa dịp còn sớm có thể quy y thì chớ nên nói bậy, nếu không gặp phải kẻ đạo hạnh cao thâm thì đến mạng cũng khó giữ”.
Ngộ Không đáp trả: “Hắn tuy tu dưỡng vài kiếp, nhưng cũng không nên chiếm cái ghế ấy lâu như vậy. Có câu Hoàng đế thay phiên nhau làm, sang năm đến lượt ta. Chỉ cần hắn dọn ra ngoài, đem thiên cung để cho ta thì không sao. Còn nếu không đồng ý, ta nhất định làm cho khuynh đảo, khiến nơi này không có nổi một ngày yên ổn”.
Phật Tổ hỏi: “Ngươi trừ việc trường sinh, biết biến hóa thì còn làm được cái gì?”
Ngộ Không dương dương tự đắc khoe rằng: “Ta đây thủ đoạn có thừa, biết 72 phép biến hóa, vạn kiếp không già, trường sinh bất tử, lại có cân đẩu vân, búng một cái đã đi xa trăm lẻ tám ngàn dặm, sao không ngồi được thiên vị?”
Thế nhưng dù dùng hết thảy những phép thuật thần thông quảng đại của mình, Ngộ Không vẫn chẳng thoát khỏi bàn tay của Phật Tổ, bị đè dưới Ngũ Hành sơn 500 năm, sau nhờ Đường Tăng giải thoát mới có thể lên đường đi lấy kinh.
Bồ Đề Tổ Sư chỉ truyền dạy pháp thuật thần thông, chứ không chỉ cách tu tâm dưỡng tính cho Ngộ Không, nên chưa thể coi là sư phụ.
Nhưng Ngộ Không trên đường lấy kinh đã dần từ bỏ ma tính, tu thành chánh quả. 
Tất cả đều do Phật Tổ an bài, nên Như Lai mới được coi là người thầy chân chính của Ngộ Không, còn Đường Tăng chính là vị “trợ giảng” tận tâm và kiên trì trên con đường tu đạo của Đại Thánh.
(PH sưu tầm và biên chỉnh)

TRIẾT LÝ TRONG "TÂY DU KÝ" (1986)


KỲ VIII: TẠI SAO TÔN NGỘ KHÔNG BỊ GIAM 500 NĂM Ở CHÂN NÚI NGŨ HÀNH MÀ KHÔNG CHẾT?
Không ít người thắc mắc, tại sao Tôn Ngộ Không bị giam cầm 500 năm dưới chân núi Ngũ Hành, chỉ được uống nước gỉ đồng và ăn hòn sắt mà vẫn “khoẻ re” không chút bệnh tật.
Đó là vì bẩm sinh, Tôn Ngộ Không là con của đá trời, hấp thụ sinh khí vạn vật, do vạn vật hoá dục mà thành.
Xuất thân cao quý như vậy nên căn cơ cũng rất phi phàm, khỉ đá được Bồ Đề Tổ Sư bí mật truyền cho phép trường sinh màu nhiệm cùng cho 72 phép thần thông biến hoá. Sau lên thiên đình giữ chức Bạch Mã Ôn, Tôn Ngộ Không ăn trộm đào tiên, trộm linh đơn của Thái Thượng Lão Quân.
Thái Thượng Lão Quân nói rằng: “Con khỉ ấy ăn đào tiên, uống rượu ngự, xơi cả linh đơn. Năm vò rượu thuốc ngâm của thần cũng bị nó tu hết vào ruột. Nó lại luyện thân thể bằng thứ lửa tam muội nữa, nên người tựa một khối kim cương rắn chắc, không vật gì hại được. Hay là để thần mang nó về bỏ vào lò Bát Quái, đốt nó bằng thứ lửa văn vũ mà thần thường dùng để luyện linh đơn, thì người nó nhất định sẽ biến thành tro bụi”. Ấy nhưng, nhờ lò luyện, Mỹ Hầu Vương sở hữu Đồng đầu thiết tý (đầu cứng như đồng, tay dẻo như thiếc) và Hỏa nhãn kim tinh (đôi mắt lửa sáng ánh kim) vô địch thiên hạ.
Trước đó, Tôn Ngộ Không đại náo Diêm phủ, xoá sổ sinh tử, vô hình trung biến mình trở thành trường sinh bất lão. Vậy nên, chuyện bị chôn ở núi Ngũ Hành 500 năm với hầu vương thực chỉ là chuyện cỏn con.
Vậy nói đến đây, chúng ta phải để ý thêm một chi tiết rằng Tôn Ngộ Không không phải bị chôn ở núi khác, mà là ở chân núi Ngũ Hành.
Đạo gia giảng về âm dương ngũ hành, coi Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ là 5 yếu tố cấu thành nên vạn vật. Nhưng “ngũ hành” dẫu sao vẫn chỉ là vật chất của tam giới chứ không phải nơi thượng giới. Bởi vậy, Ngộ Không bị đè dưới núi Ngũ Hành cũng chính là bị chôn vùi nơi trần thế, bị khống chế trong cái thân xác phàm mà không thể tự tại, tiêu dao…
500 năm tuế nguyệt phong ba, Ngộ Không cuối cùng đã quy chính thân tâm, phò tá Đường Tăng sang Tây Thiên thỉnh kinh. Đó cũng chính là điều mà cả Phật gia và Đạo gia vẫn giảng xưa nay: Khi con người rơi rớt đến cõi mê này, lầm lạc trong xã hội người thường thì con đường duy nhất để quay trở về chính là tu luyện.
(PH sưu tầm và biên chỉnh)