6 tháng 8, 2012

KHÔN NHÀ DẠI CHỢ

Trần Đăng Khoa
Mấy ngày gần đây, trong những chuyện phiếm bên quán nước vỉa hè, hay trên các hãng truyền thông, đều xôn xao những chuyện không lấy gì làm đẹp, trong phòng khám, phòng điều trị tư nhân có thày thuốc Trung Quốc. Điều đáng sợ hơn là đã xảy ra cả chuyện chết người. Nạn nhân là một phụ nữ chẳng có bệnh tật gì nghiêm trọng. Một cái chết vu vơ. Chết chỉ vì bị xốc khi truyền nước. Đó là một sơ xuất rất tối thiểu mà ngay cả một trạm xá cấp xã, cấp phường cũng khó vấp phải. Chúng ta không nghi ngờ nền y học Trung Quốc, đặc biệt là Đông y. Tuy nhiên, những thầy thuốc giỏi, những bác sĩ chuyên gia đích thực của họ đâu có sang ta để hành nghề. Làm việc trong mấy phòng khám tư nhân ở ta, có khi chỉ là mấy ông lang băm bán thuốc dạo, hay vài cậu sinh viên non choẹt vừa mới ra trường. Tay nghề không. Thực tiễn không. Kinh nghiệm không. Thế thì tránh sao được chuyện rủi ro, kể cả những cái chết bi thảm, những cái chết vu vơ rất không đáng có.
Điều chúng ta quan tâm, là tại sao những phòng khám tư nhân, với cái giá điều trị ngật ngưỡng ở... trên giời mà vẫn có bao nhiêu người nghèo sẵn sàng dồn cơ nghiệp và cả tính mạng của mình vào đấy để rồi cuối cùng chuốc lấy sự phiền toái, bùng nhùng, cả những cái chết vô cùng thảm khốc? Tất nhiên, ai rồi cũng sẽ chết vì bệnh. Nhưng những bệnh nhân đáng thương ấy không phải chết vì bệnh tật, mà vì bệnh... sùng ngoại. Cái gì của nước ngoài cũng tốt. Đến cả hàng hóa, vật dụng, hàng xách tay, hàng... ngoài luồng cũng đều... tốt cả. Còn những gì của ta cũng đều rẻ rúng, “hâm đơ”. Hãm. Từ hàng hóa, vật dụng, đến cả... con người. Các Hoa hậu của ta, phần lớn cũng sắm... chồng ngoại. Thế thì trách gì mấy bác nông dân chân lấm, tay bùn, bị nhức đầu, sổ mũi, hay cắt trĩ, truyền nước..., toàn những bệnh đơn giản, cũng phải kén bàn tay của bác sĩ ngoại, dù sự kén chọn ấy có phải trả cái giá ngất nghểu ở cái xứ... cung giăng thì cũng cứ chơi. Không đủ tiền thì bán đất cát, nhà cửa. Tính mạng còn chả tiếc thì tiếc gì mấy chục... triệu bọ. (Giá cắt trĩ ở phòng khám tư có thầy thuốc Trung Quốc là 20 triệu đồng).
Thật hẩm hiu cho nền y học “nội địa”. Trong khi đó, chúng ta có rất nhiều thày thuốc giỏi, như Giáo sư Tôn Thất Tùng, Giáo sư Tôn Thất Bách, Bác sĩ Nguyễn Trọng Nhân, Bác sĩ Nguyễn Lân Việt, Lương y Bành Khừu, Bác sĩ Nguyễn Tài Thu, bác sĩ trẻ Nguyễn Lân Hiếu. Bác sĩ Hiếu là con trai Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Lân Dũng và Thày thuốc Nhân dân, Đại tá hàm Tướng Nguyễn Kim Nữ Hiếu, Phó Viện trưởng Viện 108 Quân đội. Bác sĩ Lân Hiếu mổ tim thuộc hạng cự phách. Một học giả nước ngoài bảo tôi: “Về y học, chúng tôi chỉ hơn các anh máy móc và điều kiện làm việc thôi. Còn tài năng, kinh nghiệm, và đặc biệt là bàn tay khéo léo, chuẩn xác trong kỹ nghệ mổ xẻ, các bác sĩ của các anh thật đáng kính nể!”.
“Người Việt vốn dĩ có tinh thần cảnh giác cao độ. Kinh nghiệm từ những năm chiến tranh với cái giá quá đắt phải trả đã cho họ đức tính ấy”. Giáo sư J.Berke, một nhà Việt Nam học người Đức đã từng có nhận xét về chúng ta như vậy. Ông đã bảy lần sang thăm Việt Nam. Để khám phá Việt Nam, theo ông, chỉ cần có một công cụ, đó là cái xe đạp. Mà xe đạp thì rất sẵn. Chỉ bỏ ra hơn chục dolla là đã có cả một chiếc xe đạp rồi. Đi xe đạp Việt Nam rất hay bị xịt lốp. Nhưng không sao. Xe xịt ở bất cứ chỗ nào thì cứ tạt vào rệ đường. Thế là lập tức ở đó sẽ có ngay một ông thợ bơm vá xe đạp. Mà những ông thợ này rất đặc biệt. Họ không phải người bình thường. Họ là những anh hùng trong những năm chiến tranh. Đó là pho sử sống của cả một thời đại. Nhưng tốt nhất là cứ để họ tự nói. Người Việt sởi lởi lắm. Họ chẳng giữ được cái gì ở trong bụng. Nhưng mà đừng hỏi. Nếu cứ thật thà hỏi, hoặc tỏ ý quan tâm, lập lức họ sẽ nghi ngay mình là một thằng gián điệp quốc tế. Với người Việt, tội ác tày trời là tội làm gián điệp. Người Việt nhạy cảm lắm. Cảnh giác lắm, nên nhìn đâu cũng thấy địch!
Nhận xét của J.Berke như một chuyện đùa. Tuy thế, cũng không phải không có những điều khiến ta phải nghĩ ngợi. Một cây bút có tiếng chịu khó tìm tòi, vừa có tác phẩm mới, với giọng điệu hơi lạ, dù chỉ đơn thuần là một cách làm mới mình, để mình không giống với người khác. Vậy mà ông bạn tôi cứ truy hỏi: Cái cậu tác giả ấy là người thế nào? Nó ăn phải cái bả của địch hay do địch cài cắm? Tôi bảo: Chả có địch nào chui được vào hàng ngũ của những người từng vào sinh ra tử. Mà cơ quan ấy cũng là mảnh đất lành. Một môi trường trong veo làm sao có chỗ cho cái ác nảy nở. Nếu cậu không tin, cậu cứ cử về đấy vài ba thằng gián điệp. Tớ bảo đảm với cậu chỉ sau mấy tháng, chúng sẽ thành lao động “tiên tiến” hay cá nhân “bốn tốt”!
Ông bạn tôi bắt đầu cảnh giác. Rồi anh nghi ngờ cả tôi. “Không khéo thằng cha này cũng bị địch tiêm nhiễm rồi cũng nên”. Bà con mình thế đấy. Có thể cảnh giác, nghi ngờ với cả con cái, anh em ruột thịt trong nhà, nhưng lại nhẹ dạ cả tin với thiên hạ. Mà ai nói gì cũng tin. Các cụ bảo đó là bệnh “Khôn nhà dại chợ”.
Còn nhớ những năm 1997 - 1998, thương lái Trung Quốc sang ta mua mèo với giá cao, thế là vì cái “giá cao” ấy, mèo gần như tuyệt diệt, nông dân phía Bắc phải chịu đại dịch chuột hoành hành, khiến cả mùa màng xiêu điêu. Rồi những năm 2002 - 2003, thương lái Trung Quốc cũng lại sang mua móng trâu với giá cao. Cũng chẳng biết họ mua móng trâu làm quái quỷ gì mà mua với giá cao thế. Ở thời điểm ấy, cả chú trâu to lớn vật vã như thế mới có 5 triệu bạc mà chỉ riêng một cái móng trâu cũng đã gần một triệu bạc rồi. Thế là bà con lột móng trâu đem bán. Kết cục là trâu bò chết hàng loạt, ảnh hưởng nặng đến sức kéo của bà con nông dân nghèo phía Bắc. Để tiêu diệt cả con trâu, họ chỉ chi khoản tiền bằng đúng một chiếc móng. Thế thì chiếc móng trâu mà thương lái Trung Quốc thu gom là đắt hay rẻ đây?
Chưa hết. Hãy nhớ lại chuyện thu gom ốc bươu vàng, rồi thu gom đỉa của thương lái Trung Quốc mấy năm vừa qua, chúng ta cũng đã phải trả một cái giá đắt đến mức như thế nào? Từ các tỉnh phía Bắc, phong trào thu mua đỉa đã lan đến Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam. Nhiều người dân Hóc Môn còn đứng ra thu gom đỉa từ khắp các vùng lân cận. Thấy lợi, dễ làm mà giá cao, nhiều hộ dân Tây Ninh còn nuôi đỉa ngay trong ao hồ để mang bán cho thương lái Trung Quốc. Ngoài việc “sản xuất” đỉa, sản xuất ốc bươu vàng, họ còn đi thu mua của các hộ quanh vùng. Thương lái Trung Quốc mua gì, họ thu gom thứ ấy. Thương lái đặt với số lượng lớn rồi đột ngột “mất tích”. Mà đỉa với ốc bươu vàng sinh sản rất nhanh. Trời mưa, đỉa theo nước ùa vào cả nhà dân. Không phải chỉ trẻ con mà người lớn cũng sợ khiếp vía. Theo các nhà Động vật học, “đỉa là loài rất nguy hiểm do dễ sinh sôi nảy nở trong mọi điều kiện. Đặc biệt, ở những vùng đồng ruộng chiêm trũng. Trong khi đó, để tiêu diệt một con đỉa lại rất khó khăn, ngay cả việc đốt cháy, nếu không cháy hết còn sót lại một vài tế bào, gặp điều kiện thuận lợi cũng có thể phát triển thành một con đỉa bình thường. Đặc biệt, khi người dân đua nhau nuôi đỉa thì không thể kiểm soát được, đỉa tràn ra môi trường, trở thành hiểm họa, giống như hiểm họa ốc bươu vàng, chuột hải ly, rùa tai đỏ những năm trước đây”.
Thật quái quỷ! Và rồi còn ghê rợn hơn nữa là việc thu gom chè bẩn cũng lại của Thương lái Trung Quốc trong khu vực các tỉnh phía Bắc. Chỉ tính riêng ở Văn Chấn, Yên Bái, có thể nói, người người sản xuất chè. Nhà nhà sản xuất chè. Mỗi hộ gia đình chỉ bỏ ra 4 triệu đồng mua 2 máy vò chè và sàng chè, là đã thành một xưởng sản xuất chè tại gia. Chỉ sau 1 tuần sản xuất chè bẩn, họ đã thu hồi toàn bộ vốn. Còn sau thì lãi. Ở Hàm Yên, Tuyên Quang, còn có chuyện sản xuất chè bằng cách trộn phân lân hoặc nước bùn đất vào búp chè tươi già, qua công đoạn vò, phơi, được loại chè khô vừa nặng, vừa dẻo, cánh chè xoăn và xanh. Có một điều rất lạ, chè bẩn làm ra bao nhiêu cũng được thương lái Trung Quốc thu gom hết. Họ còn mua với giá cao. Thương lái Trung Quốc còn đến tận nhà hướng dẫn làm chè bẩn rồi bao tiêu trọn gói. Chè bẩn được đóng bao, đóng gói chở đi kìn kìn. Họ mua chè bẩn với số lượng lớn như thế về để làm gì thì chỉ có trời mới biết. Khi Trung Quốc đăng cai Đại hội Olympic, trước con mắt của bạn bè quốc tế, họ mời ông Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang sang cùng chứng kiến cảnh họ đốt chè, với lý do chè Việt bẩn không đảm bảo an toàn thực phẩm. Vậy thì còn có quốc gia nào giám ký kết, đặt mua. Vậy là chỉ sau 6 tháng, toàn bộ ngành chè xiêu điêu. Hàng loạt doanh nghiệp gắn với chè bị phá sản.
Năm 2007, Tập đoàn Bưu chính viễn thông của chúng ta cũng thiệt hại hàng chục triệu USD khi bị cắt trộm mất 11 km cáp quang. Nhiều người cứ thắc mắc, không hiểu kẻ cắp cắt trộm cáp quang để làm gì, bởi chất liệu này không thể bán phế liệu được. Sau đó, khi Công an Bà Rịa - Vũng Tàu bắt được “cáp tặc” Nguyễn Thị Bích Phượng, từ lời khai của thị, mọi người mới tá hỏa: Hóa ra thị tổ chức cắt cáp để bán cho thương lái Trung Quốc. Thị cũng không hiểu thương lái Trung Quốc mua hàng đống cáp quang vụn của thị để làm cái quái quỷ gì?
Cũng may, thương lái Trung Quốc chỉ gom thu chè bẩn, cáp quang, đỉa ốc, móng trâu... Họ mà thu gom hài cốt thì không khéo khối người đào cả mồ mả, ông bà tổ tiên đem bán. Thật đáng sợ.
Bây giờ thì tất cả đã rõ. Bà con ta quá nêu cao cảnh giác, toàn cảnh giác nghi ngờ, rồi ứng xử hà khắc với con em ruột thịt trong nhà, nhưng lại ngờ nghệch, cả tin với người ngoài thiên hạ, cũng vì những lợi ích cỏn con trước mắt, nên bị mấy anh nghịch tặc phá hoại nó lừa. Và lừa rất manh mún, tiểu nhân, nhưng lại rất bài bản, có hệ thống với mọi tính toán rất kỹ lướng, và rồi hậu quả để lại cho chúng ta thì vô cùng nặng nề và không hề manh mún một chút nào.
Ôi! Người anh em Trung Quốc, “môi hở răng lạnh”, người luôn nêu cao “mười sáu chữ vàng” mà lại hiện hình rúm ró như thế sao? Tôi nói điều này cũng vì rất yêu đất nước anh em Trung Quốc. Đất nước của Lý Bạch, Đỗ Phủ, Tào Tuyết Cần, Lỗ Tấn... cùng với nền văn hóa vĩ đại mà tôi hằng ngưỡng mộ từ thuở ấu thơ! Chính vì yêu Đất nước Trung Quốc, nên chúng ta càng đau đớn, khi những kẻ giả danh người Trung Quốc, đã bôi bẩn đất nước Trung Quốc anh em vĩ đại, nhất là mấy anh Hải tặc đã bịa ra cái đường lưỡi bò, hòng thôn tính Trường Sa, Hoàng Sa và cả Biển Đông ngút ngát kia. Trung Quốc là một quốc gia giầu có, hùng mạnh. Sự bật dậy của người anh em thân thiết trong những năm gần đây làm chúng ta mừng rỡ vô cùng. Thế kỷ XXI mà chúng ta đang sống đây sẽ là thế kỷ của Trung Quốc. Hàng hóa Trung Quốc, từ đồ tiêu dùng vụn vặt cho đến những mặt hàng cao cấp nhất cũng đã phủ khắp thế giới. Chẳng cần đến Trường Sa, Hoàng Sa và cả Biển Đông, Trung Quốc cũng vẫn là một quốc gia hùng mạnh vào bậc nhất thế giới, vậy thì việc gì phải vơ váo những thứ không phải của mình. Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam. Đó không phải chúng ta tự tuyên bố, mà chủ quyền đó đã được chính người Pháp và bạn bè Quốc tế xác định từ mấy trăm năm trước. Trong bản đồ địa giới, hải giới của Trung Quốc, từ đời Nhà Thanh và trước nữa cho đến năm 1004 cũng không có Hoàng Sa, Trường Sa và cái đường lưỡi bò ma quỷ. Đấy là những bằng cứ hùng hồn, phủ nhận những trò tháu cáy của những kẻ tiểu nhân, rất không hảo hán. Việc làm đó chẳng biết có thu được lợi lộc gì không, vì không dễ làm được những điều khuất tất ngang ngược nhất là trong thời đại ngày nay, nhưng trước mắt, họ đã tự cô lập mình trước cộng đồng quốc tế, đặc biệt là với các nước trong khu vực, cùng thở chung một bầu khí quyển Biển Đông. Và nói như các cụ ta xưa, đó cũng lại là chuyện: “Khôn nhà dại chợ!”
Theo Blog Lão Khoa, 29/7/2012

ĐẢNG LÃNH ĐẠO LÀ TẠO ĐỘNG LỰC CƠ BẢN CHO QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI

Thân gửi anh Lân Dũng!
Đây là bài tôi mới viết. Gửi anh - một đại biểu Quốc hội nhiều khóa, có uy tín trong cử tri cả nước, đọc cho “vui”. Nếu có thể thì anh lại cho tôi góp chuyện cùng bà con Xóm Lá. Nhờ Blog của anh mà tôi lại có thêm một số người bạn mới đấy. Một sân chơi thật vui và bổ ích.
Cảm ơn và chúc anh nhiều sức khỏe!
Trần Đình Huỳnh
ĐẢNG LÃNH ĐẠO LÀ TẠO ĐỘNG LỰC CƠ BẢN CHO QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI
Đảng khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới nhằm chấn hưng đất nước. Đổi mới là một thời kỳ cách mạng làm biến đổi diện mạo và thân phận của cả dân tộc ta trong thời đại mới. Đảng Cộng sản Việt Nam đã thể hiện quyết tâm ấy qua các Nghị quyết của 7 kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc (kể từ sau khi thống nhất đất nước tới nay). Nhưng để biến Nghi quyết, Cương lĩnh thành hiện thực thì Đảng không bao giờ được quên lời dặn của Hồ Chủ tịch, rằng: “Phải biến quyết tâm của Đảng thành quyết tâm của nhân dân” (Hồ Chí Minh toàn tập, T.11, H.1996, tr.30). Nhưng nhân dân không chỉ quyết tâm bằng các chỉ thị, mệnh lệnh của Đảng và Nhà nước mà họ chỉ thực sự quyết tâm khi được thực sự làm chủ vận mệnh của mình, tức là họ được sống trong một thể chế dân chủ, dân chủ thực tế chứ không phải là dân chủ hình thức. Dân chủ là động lực cơ bản nhất của quá trình đổi mới. Sự lãnh đạo của Đảng chỉ có hiệu quả khi chính bản thân Đảng là một tổ chức dân chủ và nhờ có tổ chức ấy Đảng tạo được động lực cơ bản cho bản thân mình và qua đó tạo được động lực cơ bản cho cho toàn thể nhân dân.
1. Dân chủ - nói nôm na là quyền làm chủ mọi mặt của đời sống con người. Quyền làm người, tất nhiên, cơ bản nhất là quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Nhìn vào lịch sử phát triển của nhân loại, ta càng thấm thía dân chủ hóa mọi mặt đời sống xã hội vừa là mục đích, vừa là động lực cơ bản nhất trong bất cứ thời đại nào, nhất là thời đại chúng ta đang sống. “Không có gi quý hơn độc lập, tự do”, “Dẫu có phải đốt cháy cả dẫy Trường Sơn cũng quyết phải giành cho được độc lập, tự do cho Tổ quốc”... là động lực cơ bản của nhân dân Việt Nam trong mấy cuộc kháng chiến do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Trong quá trình đổi mới toàn diện đất nước hiện nay, hơn bất cứ khi nào, Đảng cầm quyền cần phải nhận thức sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh: “Đem sức ta mà giải phóng cho ta”, “công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân”... để quyết tâm thực hiện dân chủ hóa mọi mặt đời sống xã hội, vì chỉ có như vậy Đảng mới hiện thực hóa được những khẩu hiệu tốt đẹp, những ước muốn thành tâm đã từng được ghi trên các văn kiện của 7 kỳ Đại hội, đã trải nghiệm một thời gian dài trên 3 thập kỷ mà cho tới nay đường tới mục tiêu không chỉ gian nan, thách thức mà thậm chí đang còn đứng trước cả những nguy cơ!
Hồ Chí Minh đã từng nói rằng, giành được độc lập rồi thì giao chính quyền cho số đông nhân dân, phải xây dựng nước ta thành một nước hoàn toàn độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh. Tuy nhiên từ khi thống nhất đất nước (1975) tới nay: “Dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc chưa được phát huy đầy đủ. Quyền làm chủ của nhân dân ở một số nơi, trên một vài lĩnh vực còn bị vi phạm. Việc thực hành dân chủ còn mang tính hình thức... Chủ trương quan điểm của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc, về quyền và lợi ích của các giai cấp, tầng lớp nhân dân chưa được thể chế đầy đủ thành pháp luật” (Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị Quốc gia, H.2011, tr.171)
Dường như không ít các nhà lãnh đạo khi đã nắm quyền lực trong tay, đã có một đời sống quá chênh lệch so với đời sống của đại bộ phân dân chúng cần lao (điều này chính Mác đã thể hiện sự lo lắng của mình khi ông đề cập đến lương bổng của những công chức Nhà nước dưới chính quyền do giai cấp vô sản lãnh đạo) nên đã lãng quên câu nói của Hồ Chí Minh, mà theo tôi, đó là lời cảnh báo cho sự sống còn của chế độ: “Nếu nước độc lập mà dân không được hưởng quyền tự do, hạnh phúc thì độc lập cũng không có ý nghĩa gì” (Hồ Chí Minh toàn tập, T4, H.1995, tr.56). Vì vậy, dân chủ hóa mọi mặt của đời sống xã hội ở nước ta hiện nay đang là đòi hỏi cấp bách, nó đang trở thành động lực cơ bản nhất có vai trò quyết định sự thành bại của quá trình đổi mới đất nước.
Dân chủ chính trị là tiền đề cho dân chủ về kinh tế, văn hóa. Trong một xã hội được mệnh danh là dân chủ thì dân chủ chính trị phải được thể hiện ở quyền tự do ứng cử và bầu cử vào cơ quan quyền lực Nhà nước; quyền quyết định cuối cùng đối với Hiến pháp. Hiến pháp ấy phải là bản khế ước xã hội của nhân dân, giao quyền, ủy quyền cho cơ quan Nhà nước để đảm bảo rằng: Nhà nước ấy thực sự là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nhà nước ấy phải là Nhà nước pháp quyền, tức là trong xã hội Đảng cầm quyền và Nhà nước phải đặt mình dưới pháp luật, thượng tôn pháp luật và tuân thủ pháp luật. Việt Nam là nước do một Đảng chính trị - Đảng Cộng sản Việt Nam - lãnh đạo và duy nhất cầm quyền. Do vậy dân chủ trong Đảng lại trở thành tiền đề của thực hành dân chủ chính trị ở nước ta. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh thì thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng là bản chất văn hoá và là nền tảng tinh thần của một Đảng cách mạng chân chính, đồng thời là tiêu chí để phân biệt Đảng với mọi đảng chính trị khác. Dân chủ là của cải tinh thần, là nguồn gốc của sức mạnh để Đảng trở thành người đại diện cho trí tuệ, đạo đức, lương tâm và danh dự của cả dân tộc. Đảng đã và đang lãnh đạo bằng đường lối, chủ trương, chính sách và công tác tổ chức cán bộ. Đường lối, chủ trương, chính sách đòi hỏi phải có sự vận dụng sáng tạo và phát triển lý luận cách mạng tiên tiến vào việc nghiên cứu kinh nghiệm thực tế trong nước, kinh nghiệm các địa phương, cơ sở, đồng thời phải có nhãn quan chính trị sắc sảo, am hiểu tinh tường thời cuộc, trong khu vực và toàn cầu. Một người hay một nhóm người không thể làm tốt việc đó mà phải bằng trí tuệ chung của toàn Đảng và sự tham gia rộng rãi của toàn dân. Dân chủ thảo luận để hoạch định đúng các quyết sách chính trị, kinh tế, văn hoá, quốc phòng, an ninh, tóm lại là toàn bộ chính sách nội trị và ngoại giao trong giai đoạn khó khăn hiện nay chỉ có thể giải quyết đúng thông qua con đường dân chủ trong Đảng và dân chủ trong xã hội. Tổ chức bộ máy và nhân sự quốc gia hiện nay, trên thực tế đều do Đảng lãnh đạo,quyết định và quản lý. Với sứ mệnh cao cả lãnh đạo và chịu trách nhiệm trước tiên đối với vận mệnh quốc gia như thế, thì như trên đã nói, sự hiểu biết của một hay một nhóm người là rất có giới hạn.
Ngay thiên tài như Hồ Chí Minh mà Người cũng không bao giờ tự cho mình là hiểu biết đầy đủ mọi việc, thậm chí Người còn thẳng thắn cho rằng so với tri thức của các nước tiên tiến “thì chúng mình dốt lắm. Tôi cũng dốt lắm”. Người nói: “...Người lãnh đạo không nên kiêu ngạo, mà nên hiểu thấu. Sự hiểu biết và kinh nghiệm của mình cũng chưa đủ cho sự lãnh đạo đúng đắn. Vì vậy, ngoài kinh nghiệm của mình, người lãnh đạo còn phải dùng kinh nghiệm của đảng viên, của dân chúng, để thêm cho kinh nghiệm của mình” (Hồ Chí Minh toàn tập, T.5, H.1995, tr.285). Hồ Chí Minh đã viết từ khi Người sáng lập Đảng (tháng 02/1930) như sau: “Bất cứ về vấn đề nào, đảng viên đều phải hết sức thảo luận và phát biểu ý kiến, khi đa số đã nghị quyết thì tất cả đảng viên phải phục tùng mà thi hành” (Hồ Chí Minh toàn tập, T.3, H.1995, tr.7). Có lẽ hơn bất cứ thời kỳ nào, hiện nay mọi công việc của Đảng, trong tất cả các cấp, các ngành, từ Trung ương đến cơ sở, chúng ta cần phải cùng nhau nhắc lại và đối chiếu, tự hỏi xem mình đã làm theo lời chỉ dẫn trên của Người như thế nào? Vì sao nhiều hội nhưng không nghị, nhiều thành viên tham dự không hăng hái nhiệt tình, thẳng thăn thảo luận mà để mãi tình trạng trong hội nghị im tiếng, ngoài hội nghị mới thì thào, thậm thụt, bàn tán? Tại sao đã có Nghị quyết mà vẫn còn không ít cán bộ, đảng viên, kể cả người đã giơ tay biểu quyết, không nghiêm chỉnh thi hành? Rõ ràng đây là một vấn đề lớn, đang có tính thời sự của Đảng (và cũng là đòi hỏi của dân tộc) mà trong khi tiến hành kiểm điểm theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) từ cơ quan cao nhất, từ người có chức vụ cao nhất trở xuống cần nghiêm chỉnh tự chỉ trích để tìm rõ căn nguyên. Từ trong di sản tư tưởng của Hồ Chí Minh, phải chăng, mỗi chúng ta cần nhận ra những điều giản dị, như chân lý của cuộc đời còn lắm bộn bề lo toan của ngày hôm nay, rằng: Có thực hành dân chủ rộng rãi, nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình thì trong hoạch định các quyết sách chính trị mới có sự thống nhất về tư tưởng và hành động, mới có đoàn kết nhất trí thực sự, nếu không sẽ chỉ là “đoàn kết, nhất trí” hình thức, là che dấu sự bè phái, cánh hẩu - nguyên nhân sâu xa sự tồn vong của Đảng và chế độ. Chúng ta thường đã học, đã nói và viết rằng nhân dân là người quyết định lịch sử. Vậy thì, chỉ có cơ chế để dân chủ hóa mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trước hết là trong Đảng đến tổ chức hoạt động của Nhà nước thì nhân dân mới thực sự là chủ và khi ấy nhân dân sẽ đủ sức mạnh và trí thông minh để làm chủ. Đó chính là động lực cơ bản, là sức mạnh vô tận để trong quá trình đổi mới, xây dựng đất nước, không trở lực nào, khó khăn nào có thể ngăn cản được bởi một chân lý hiển nhiên đã từng được lịch sử dân tộc chứng minh: “Khó vạn lần dân liệu cũng xong”.
2. Có dám thực hành dân chủ không?
Trong Hồi ký của Tố Hữu, ông có viết rằng, trong một lần lên báo cáo công tác với Bác, Bác đã nói: Các chú diễn giảng hai tiếng dân chủ sao mà rắc rối thế? Dân chủ thật ra có nghĩa là: “Để cho dân được mở miệng. Liệu có làm được, có dám làm thế không?”
Ai có quyền để cho đảng viên và nhân dân được “mở miệng”?
Câu trả lời thật đơn giản. Đó là những đồng chí nắm trong tay quyền lực của Đảng và quyền lực Nhà nước, từ cấp trung ương trở xuống. Hồ Chủ tịch đã từng chỉ rõ một tình trạng không lành mạnh trong Đảng ta: “Đối với cơ quan lãnh đạo, đối với những người lãnh đạo, các đảng viên và các cán bộ dù có ý kiến cũng không dám nói, dù muốn phê bình cũng sợ, không dám phê bình. Thành thử cấp trên với cấp dưới cách biệt nhau... Trên thì tưởng cái gì cũng tốt đẹp. Dưới thì có gì không dám nói ra. Họ không nói, không phải vì họ không có ý kiến, nhưng vì họ nghĩ nói ra cấp trên cũng không nghe, không xét, có khi lại bị “trù” là khác. Họ không dám nói ra thì họ cứ để trong lòng, rồi sinh ra uất ức, chán nản. Rồi sinh ra thói “không nói trước mặt, chỉ nói sau lưng”, “trong Đảng im tiếng, ngoài Đảng nhiều mồm”, sinh ra thói “thậm thà thậm thụt” và những thói xấu khác” (Hồ Chí Minh toàn tập, T.5, H.1995, tr.243)
Trong những năm gần đây, có biết bao nhiêu vụ khiếu kiện ùn tắc dồn cả lên trên, có không ít những vụ cưỡng chế phải dùng đến cả lực lượng vũ trang. Nguyên nhân chính vẫn là các cấp ủy Đảng và chính quyền không dân chủ trong khi ra quyết định và không dám thành thực đối diện trực tiếp với nhân dân, và đúng là không dám để nhân dân được “mở mồm ra” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói. Viết ra những điều này sẽ có đồng chí không bằng lòng nhưng thưa, Bác Hồ đã từng chỉ ra rằng: Chúng ta thường nêu vấn đề dân chủ, đồng chí nào cũng thấy phải thực hành dân chủ, “nếu ai nói chúng ta không dân chủ thì chúng ta khó chịu. Nhưng nếu chúng ta tự xét cho kỹ, thì thật có như thế...” (Hồ Chí Minh toàn tập, T.5, H.1995, tr.243). Những vụ khiếu kiện kéo dài, những điểm nóng, những vụ giải phóng thu hồi đất phải dùng cả lực lượng vũ trang để giải quyết, suy cho cùng là do thói quan liêu, quan chủ, là không dân chủ từ trong tổ chức Đảng, chính quyền, là trách nhiệm trước tiên của cấp ủy Đảng và người đứng đầu.
Vì sao không dám thực hành dân chủ?
Có nhiều lý do:
- Trước hết, một số người “có tật giật mình”, vì họ đã có những thói hư tật xấu, lạm dụng chức vụ quyền hạn để mưu lợi ích cá nhân hay lợi ích nhóm nên không minh bạch, không công khai, che giấu thông tin, thậm chí đánh lừa dư luận nên khi vỡ lở thì tìm cách lảng tránh, tìm cách xa lánh, không dám đối thoại thẳng thắn với nhân dân.
- Cũng có những trường hợp ngụy biện, thoái thác trách nhiệm nên khi có những việc sai lầm, bị dư luận xã hội thậm chí được đại biểu Quốc hội chất vấn thì bao biện rằng làm theo Nghị quyết của Đảng hay theo luật (nhưng nếu đem đối chiếu kỹ thì chỉ là ngụy biện để đổ lỗi cho Đảng và Nhà nước chứ thực chất không phải thế). Vụ Dương Chí Dũng ở Tổng cục hàng hải thuộc Bộ Giao thông vận tải vừa qua là một thí dụ điển hình.
- Cũng có trường hợp do “sự chấp hành máy móc”, làm việc không có bản lĩnh, không suy xét, quyết đoán cho phù hợp với tình hình địa phương trên cơ sở vì lợi ích của nhân dân nên đem đối lập Đảng, Nhà nước với Nhân dân. Vụ cưỡng chế gây ồn ào ở Hải Phòng và Hưng Yên vừa qua là một thí dụ. Hồ Chủ tịch đã nói: “Nếu chúng ta hỏi cán bộ: “Việc đó làm cho ai? Đối với ai phụ trách?” chắc số đông cán bộ sẽ trả lời: “Làm cho Chính phủ hoặc Đảng, phụ trách trước cấp trên”. Câu trả lời ấy đúng một nửa. Nếu chúng ta lại hỏi: “Chính phủ và Đảng vì ai mà làm việc đó? Và phụ trách với ai?” thì e nhiều cán bộ không trả lời được” (Hồ Chí Minh toàn tập, T.5, H.1995, tr.245). Người còn nói rõ: Đảng và Chính phủ chỉ mưu lợi ích cho nhân dân, nên làm việc gì cũng phải vì nhân dân và chịu trách nhiệm trước nhân dân. Tình hình phản ứng gay gắt của nhân dân ở một số nơi vừa qua cũng có thể nhân dân chưa hiểu nhưng chủ yếu là vì cán bộ không hiểu, hoặc do lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm, mà cố tình không hiểu, cho nên trong lúc làm việc thường sai lầm “đến nỗi chia Chính phủ và Đảng ra một phía, quần chúng ra một phía... cán bộ chỉ làm theo cách hạ lệnh, cách cưỡng bức. Kết quả dân không hiểu, dân oán” (Hồ Chí Minh toàn tập, T.5, H.1995, tr.245).
Một Đảng chính trị cầm quyền tuyên bố không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân, một Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân mà gây ra nhiều điểm phản ứng gay gắt của số đông người dân đến nỗi phải dùng cach hạ lệnh và huy động lực lượng vũ trang để cưỡng chế nhân dân - đối tượng phục vụ của mình - như là một cứu cánh của hoạt động công vụ thì hoàn toàn trái với tư tưởng Hồ Chí Minh, trái với Cương lĩnh và Điều lệ của Đảng. Cần phải chấm dứt và xử lý nghiêm những cán bộ chủ chốt ở những địa phương đã gây ra một số vụ cưỡng chế như thế.
PGS, TS Trần Đình Huỳnh,
Nguyên Viện trưởng Viện Xây dựng Đảng,
Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
(Theo blog của GS Nguyễn Lân Dũng)

DÂN TRÍ HAY QUAN TRÍ?

Trần Đăng Khoa
- Này, tôi hỏi thật nhé, công việc bề bộn thế, chú có còn thời gian đọc sách báo không?
- Cụ hỏi vậy có nghĩa là thế nào?
- Chả là gần đây, tôi thấy báo chí, truyền hình người ta hay bàn đến việc “nâng cao dân trí”. Nhưng vấn đề quan trọng, tôi nghĩ chính là chuyện “quan trí”, chứ không phải “dân trí” đâu, chú ạ.
- Cụ nói thế nghĩa là...
- Là cán bộ có vấn đề chứ sao. Tôi thấy trình độ dân trí của ta bây giờ rất khá. Họ không ấu trĩ, u mê như các chú lầm tưởng đâu. Bây giờ, chỉ ngồi nhà, kéo cái cần ăng-ten lên là họ đã nắm được toàn thế giới. Trong khi đó nhiều cán bộ của ta lại ấu trĩ, non kém, không đủ khả năng đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của dân. Mà cán bộ mới là quan trọng. Vì họ mới thực sự ở vị thế tác động tới đời sống xã hội. Một người dân dốt nát, có quyết định sai lầm thì chỉ một mình anh ta, hay cùng lắm là vợ con anh ta phải gánh chịu hậu quả. Nhưng một cán bộ mà có những quyết sách sai lầm thì nguy lắm. Cán bộ càng cao thì tầm ảnh hưởng càng lớn. Có khi một làng, một xã, một huyện, một tỉnh, hoặc thậm chí là cả một dân tộc phải trả giá cho sự sai lầm của một người, hoặc một nhóm người. Tôi nói vậy sao chú lại cười? Có lẽ chú nghĩ tôi là “gái goá lo việc triều đình” ư?
- Ô, không không... Con đang nghe mà. Nghe chuyện cụ vui lắm...
- Thế mà chú còn vui được à? Cái chú này lạ thật. Chính chú mới là cái thằng vô trách nhiệm nhất. May mà chú không làm to. Chú mà làm to không khéo chết dân đấy. Tôi nói, chú bỏ ngoài tai, đừng trách ông lão nhà quê lẩn thẩn nhé. Tôi thấy cán bộ các chú bây giờ nhiều anh buồn cười lắm. Có anh nói rất hùng hồn mà người nghe vẫn chẳng hiểu anh ta nói gì cả. Bởi tư duy người nói đâu có được mạch lạc. Có anh lên truyền hình vẫn còn nói ngọng, cứ lẫn lộn giữa n với l. Nghe mà nản quá, chú ạ. Còn nhớ một lần, tôi dự buổi mít-tinh truy điệu đồng bào bị thiệt hại trong mấy trận lũ lụt. Có ông đọc điếu văn xong lại vỗ tay hoan hô. Ông ta vỗ trước, rồi mọi người ngơ ngác vỗ theo...
- Cái đó xin cụ thông cảm, có thể do thói quen mà hoá sơ suất...
- Làm cán bộ thì phải cẩn trọng ngay từ những cái nhỏ nhất chứ. Bởi anh ta đang đứng trước dân. Ở đâu cũng có “ống kính”. Người dân sẽ trông vào anh ta mà tìm cách ứng xử cho mình. Với những anh cán bộ như thế thì đừng trách vì sao dân lại thiếu lòng tin vào những người lãnh đạo. Cũng đừng nghĩ là họ nhẹ dạ bị địch xúi giục, mua chuộc. Chẳng có địch nào chui được vào đội ngũ nhân dân, những người suốt đời gắn bó sinh tử với cách mạng, với đất nước. Hàng triệu con, em của họ còn đang nằm ở dưới đất trong suốt mấy cuộc chiến tranh kia...
- Vâng, cụ nói vậy thì con cũng biết vậy. Nhưng dân mình cũng cần độ lượng, thông cảm. Làm cán bộ cũng khó lắm...
- Thì có ai bảo làm lãnh đạo dễ đâu. Tôi có ông bạn chăn trâu cắt cỏ xưa, giờ làm Phó Chủ tịch tỉnh. Ông ấy bảo: “Cậu nói gì? Cần phải học à? Rõ vẽ chuyện! Tớ chỉ học hết có lớp Bốn, sau này được người ta đưa đi học hết bổ túc lớp Bảy. Thế mà suốt mấy chục năm làm cán bộ, tớ có sử dụng đến kiến thức đã học đâu”. Tôi không biết những ông cán bộ như thế sẽ múa may ra sao trong thời Kinh tế tri thức và thông tin toàn cầu này. Chẳng biết chú thế nào, chứ tôi thì tôi lo lắm. Bởi thế cùng với việc nâng cao dân trí, chúng ta cần khẩn cấp nâng cao quan trí, chứ không thì nguy đấy.
- Vâng, cụ góp ý vậy thì con cũng chỉ biết vậy...
- Biết vậy, rồi vẫn cứ để vậy chứ gì? Các chú cứ hay hỏi ý kiến, rồi lại còn đề nghị góp ý. Đến khi người ta góp ý thật thì lại chẳng nghe. Hoặc nếu có nghe, thì nghe xong rồi bỏ đấy. Hay chú nghĩ cái ông lão cựu chiến binh nhà quê, lẩm cẩm đã hết thời, ngồi ở xó nhà lại cứ đòi bàn chuyện thế giới...
- Ấy chết, con đâu dám nghĩ thế...
- Nhân có chén trà vặt, lại có chú sang chơi, thì tôi nói thế thôi. Thực tình, người dân chúng tôi lo lắm. Chú hỏi bây giờ dân quan tâm đến điều gì ư? Miếng cơm, manh áo. Đã đành là thế rồi. Đối với người dân, miếng cơm to lắm. Manh áo cũng lớn lắm. Tuy thế, số phận của dân đâu chỉ lệ thuộc vào chuyện cơm áo. Cái mà chúng ta quan tâm nhất bây giờ vẫn là chuyện chống tham nhũng và ổn định chủ quyền ở Biển Đông. Chính vì thế, cuộc tiếp xúc cử tri của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang mới được nhân dân chú ý đến như vậy. Dân rất hứng khởi khi nghe ông Sang bảo, phải kiên quyết chống tham nhũng. Dù đau đớn cũng phải làm. Không thể khác...
- Vâng, con cũng rất tâm đắc khi xem truyền hình tường thuật...
- Bấy lâu nay, thời tôi còn công tác, ta vẫn cứ nói Tập thể lãnh đạo, Cá nhân phụ trách. Nhưng tôi nghĩ, quan trọng nhất vẫn là anh đứng đầu chú ạ. Tập thể, dù có là Thường vụ, hay Cấp ủy thì cũng chỉ là người giúp việc mà thôi. Nếu nói tập thể lãnh đạo, thì khi có sự cố, người đứng đầu rất dễ lẩn tránh trách nhiệm. Ví như vụ đề bạt ông Dương Chí Dũng vừa rồi ấy. Người đứng đầu vẫn ung dung: Chúng tôi làm đúng quy trình. Tôi không ký cái gì sai cả. Khi đề bạt ông Chí Dũng, thanh tra Chính phủ chưa có kết luận. Trời đất ơi! Khi thanh tra đã kết luận rồi thì còn gì để bàn nữa. Người đứng đầu phải nắm được cán bộ của mình khi tiến cử chứ. Việc chọn người đã sai thì mọi thủ tục tuần tự, dù có đúng cũng vô nghĩa. Vấn đề quan trọng nhất vẫn là việc chọn người. Cần tránh chủ nghĩa hình thức chú ạ. Ví như việc kê khai tài sản. Tôi cho đó cũng chỉ là hình thức. Vì không thể kiểm soát được. Có ông rất giàu, nhưng nhà cửa, tiền bạc lại “lặn” hết vào con cháu họ hàng. Nếu thực sự muốn kiểm kê tài sản, thì phải xóa bỏ mọi giao dịch bằng tiền mặt. Tất cả đều thanh toán theo thẻ qua hệ thống ngân hàng. Như thế, Nhà nước mới kiểm soát được. Một vấn đề tôi nghĩ cũng cần minh bạch chú ạ. Đó là sự công khai năng lực cán bộ. Điều này cũng rất dễ làm, dù chúng ta không có chế độ tranh cử. Ví dụ, ông nào được đề bạt thì có cuộc ra mắt trước dân, tường thuật trực tiếp trên các kênh truyền thông. Ông ta có thể trình bày thực trạng của ngành mà mình phụ trách. Ngành đó ở các nước phát triển như thế nào? Trên thế giới ra sao? Rồi sự phát triển của nó trong các nước khu vực? Thực trạng mình đang ở đâu? Người tiền nhiệm đã làm được những gì? Đến lượt mình, mình sẽ làm gì? Khâu nào sẽ là đột phá khẩu? Tiến trình của năm thứ nhất? Rồi năm thứ hai? Rồi toàn khóa mà mình đảm nhiệm? Như thế tất cả đều minh bạch, rõ ràng. Dân sẽ biết ngay năng lực, trình độ, khả năng của người gánh vác nhiệm vụ. Rồi từ đó mới có tiêu chí để giám sát kiểm tra, rồi bỏ phiếu tín nhiệm. Nếu làm tốt thì tiếp tục khóa tới. Nếu không làm được thì rời ngay vị trí cho người khác lên thay. Người tài ở trong thiên hạ còn nhiều lắm. Còn nhớ Tổng thống B.Elsin. Tôi đọc báo, mới biết ông này hay uống rượu, khi đi thăm nước ngoài, chủ nhà đã đón tề chỉnh theo nghi thức cấp cao nhất, mà bố ấy còn say xỉn trên máy bay, không xuống được. Khi sắp xếp Nội các, ông ấy chọn cán bộ cũng cũng rất chếnh choáng. Thoạt đầu Thủ tướng là một vị cán bộ lão thành giàu kinh nghiệm lãnh đạo đã ở tuổi bảy mươi. Sau thấy không hiệu quả, ông thay bằng một anh chàng rất trẻ vừa mới chớm ba mươi, nguyên là Bộ trưởng ngành Luyện kim gì đó. Rồi ông lại tiếp tục thay. Ông thay cán bộ cứ như thay áo. Nhưng rồi cuối cùng, ông đã tìm ra được Thủ tướng V.Putin, người đã cứu nước Nga thoát khỏi hiểm họa. Bây giờ, sau hai nhiệm kỳ Tổng thống, một nhiệm kỳ Thủ tướng, V.Putin lại quay về chức vụ Tổng thống, theo sự tín nhiệm của nhân dân Nga. Ở thời đại nào, người đứng dầu cũng vô hạn quan trọng. Bởi nó quyết định sự hưng thịnh hoặc suy tàn của một chính thể hay một quốc gia. Cụ Hồ ngày xưa rất tài trong kỹ nghệ dùng người. Ở lĩnh vực này, Ông Cụ quả là một vị Thánh sống, chú ạ...
Theo Blog Lão Khoa, 01/7/2012