6 tháng 8, 2012

MÈO - BẠN THÂN THIẾT CỦA NHÀ NÔNG

GS, TS Nguyễn Lân Dũng
Năm Mão xin kể chuyện mèo. Với các gia đình giàu có ở phương Tây thì mèo chỉ là loài vật làm cảnh và được chủ rất nuông chiều. Nèo mất hẳn khả năng săn bắt chuột vì thực ra tại các gia đình ấy thì làm gì có chuột mà bắt (!). Với nông dân ta thì mèo là trợ thủ đắc lực để săn bắt và xua đuổi chuột, bảo vệ cho cót thóc, cót ngô và đống quần áo của cả gia đình. Ai cũng yêu quý‎ mèo nhưng mỗi bên yêu quý‎ theo một nhu cầu khác nhau.
Người ta tin rằng tổ tiên trung gian gần nhất trước khi được thuần hóa của chúng là mèo rừng châu Phi (Felis silvestris lybica). Mèo nhà đã sống gần gũi với loài người ít nhất 9.500 năm. Mèo nhà được Lin-Nê đặt tên là Felis catus từ năm 1758 và hiện vẫn mang tên khoa học như vậy. Thông thường mèo nặng từ 2,5 đến 7,0 kg; tuy nhiên, một số giống như Maine Coon có thể vượt quá 11,3 kg . Kỷ lục thế giới vể con mèo nặng nhất là con mèo Himmy sống ở Queensland (Australia). Nó nặng tới 21,23 kg (!).
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì mèo nhà thường sống từ 14 tới 20 năm, tuy nhiên đã có chú mèo già nhất mà từng biết là đã sống tới 38 năm 3 ngày (!) Đó là con mèo cái Creme Puff (sinh ngày 03/8/1967 và chết ngày 06/8/2005).
Mèo có thể chạy đạt tới tốc độ 48,3 km/giờ trên những khoảng cách ngắn và có thể nhảy cao tới 2,1 mét từ tư thế đứng yên. Mèo nhà là một trong số ít loài vật bốn chân không có các xương đòn cứng, do đó nó có thể chui qua những lỗ hổng có kích thước bằng đầu của chúng. Với 32 cơ riêng biệt điều khiển hướng nghe của tai, mèo có thể vểnh mỗi tai theo một hướng khác nhau. Nhờ vậy, mèo có thể quay người về một hướng và vểnh tai theo hướng khác. Đa số mèo có tai thẳng vểnh cao, rất ít khi có tai cụp. Khi giận dữ hay sợ hãi, mèo thường chĩa tai về phía sau, đồng thời phát ra các âm thanh gầm gừ. Mèo cũng chĩa tai về phía sau khi chú ý tới một tiếng động phát ra từ phía sau nó. Mèo giữ năng lượng bằng cách ngủ nhiều hơn đa số các loài động vật khác, đặc biệt khi chúng già đi. Thời gian ngủ hàng ngày có khác nhau, thường là 12 - 16 giờ, một số chú mèo có thể ngủ tới 20 giờ trong ngày. Thân nhiệt của mèo vào khoảng 38 tới 39°C. Nhịp tim bình thường của mèo vào khoảng 150 - 180 nhịp/ phút, nghĩa là khoảng gấp đôi so với người. Mèo là loài vật đi trên đầu ngón chân. Chúng đặt bàn chân sau (hầu như) trực tiếp lên dấu của bàn chân trước, giảm thiểu tiếng ồn và dấu vết để lại. Điều này cũng giúp chúng có vị trí đặt chân sau tốt khi bước đi trên bề mặt ghồ ghề. Mèo có vuốt thu lại được. Bình thường, ở vị trí nghỉ các vuốt được thu lại trong da và lông quanh đệm ngón. Điều này giữ vuốt luôn sắc bởi chúng không tiếp xúc với mặt đất cũng như cho phép mèo đi nhẹ nhàng rình mồi. Các vuốt chân trước thường sắc hơn so với phía sau. Mèo có thể giương một hay nhiều vuốt ra tùy theo nhu cầu. Chúng thường giương vuốt khi săn mồi, tự vệ, hay leo trèo, hay để tăng ma sát khi bước đi trên các bề mặt trơn. Đa số các giống mèo đều thích trèo cao hay ngồi ở các vị trí cao. Độ cao khiến mèo có điểm quan sát tốt hơn. Khi rơi, mèo có thể sử dụng cảm giác thăng bằng sắc bén và khả năng phản xạ của nó tự xoay thân tới vị trí thích hợp. Nó luôn chỉnh lại thăng bằng cơ thể theo một cách, khiến chúng luôn có đủ thời gian thực hiện phản xạ này khi rơi. Vì thế, những cú ngã từ trên cao (nhiều tầng) ít gây nguy hiểm hơn những cú ngã từ độ cao chỉ vài mét. Nhiều trường hợp đã được ghi nhận cho thấy những chú mèo ngã từ độ cao 5 đến 10 tầng mà vẫn sống sót, bình yên vô sự. Tầm nhìn của mèo tốt nhất vào ban đêm so với người, và kém nhất vào ban ngày. Mèo cũng như chó có màng trạch để phản chiếu lại ánh sáng tới võng mạc. Khi đó, khả năng nhìn của mèo được tăng lên khi ở trong bóng tối, tạo ra một màng lưới thị giác sắc sảo. Nhưng vào ban ngày hoặc chỗ có nhiều ánh sáng, tròng đen của mèo khép lại hẹp, làm số lượng ánh sáng chiếu vào ít đi, tránh bị lóa và cải thiện khả năng quan sát. Mèo có bộ ria rất dài. Nếu mèo không có ria thì nó không thể chui vào hang bắt chuột được. Độ dài của ria mèo đúng bằng chiều ngang thân nó. Khi mèo đuổi chuột trong bóng tối, nó thường chạy dưới gầm bàn, tủ, đôi khi còn phải trườn vào hang, hốc. Nếu ria của nó chạm vào cạnh của lối đi hoặc vách hang hốc, thì nó hiểu rằng lối đó quá hẹp không thể chui vào được. Như thế bộ ria giống như cái thước của mèo vậy.
Thông thường mèo có thị trường khoảng 200°, so với 180° ở người. Mắt của chúng hướng về phía trước để có được hình ảnh có chiều sâu tuy phải hi sinh độ rộng thị trường. Mèo có mi mắt thứ ba, đó là 1 màng mỏng xuất hiện khi mắt mèo mở. Màng này thường rất rõ ràng khi mèo buồn ngủ. Mắt mèo có rất nhiều màu nhưng phổ biến là vàng, xanh lục và da cam. Mèo có thể nghe được những âm thanh ở mức cao hơn 2 quãng so với con người, và một nửa quãng so với chó. Khi nghe âm thanh nào đó, tai mèo sẽ xoay về hướng đó. Mèo có thể xác định vị trí một vật chính xác trong vòng 7,5 cm khi nguồn phát âm ở khoảng cách khoảng 1 mét. Khứu giác của một con mèo nhà mạnh gấp 14 lần so với của con người. Số lượng tế bào khứu giác ở mũi của chúng cũng nhiều gấp đôi, do dó mèo có thể ngửi thấy những mùi mà chúng ta không nhận thấy được. Mèo còn có một cơ quan đánh hơi ở vòm miệng. Khi một con mèo chun mõm, hạ thấp cằm, và nâng lưỡi lên một chút, dó là lúc nó đang sử dụng cơ quan này. Xúc giác của mèo cũng khá nhạy bén. Xương sống của mèo có nhiều đốt hơn chúng ta để di chuyển dễ dàng và tránh được thương tổn. Xương đuôi rất dài để giữ thăng bằng cho việc di chuyển. Toàn bộ gồm 7 đốt sống cổ, 13 đốt sống ngực, 7 lưng 3 hông và 14 - 28 đốt sống đuôi, mèo có thể cuộn tròn cơ thể hoặc “giảm xóc, giảm nhẹ sang chấn” khi rơi từ độ cao nguy hiểm. Bộ răng và hàm của mèo đầy mãnh lực cắn xé mồi. Khi bắt mồi, các móng vuốt giương ra khỏi đệm thịt để cào xé mồi. Để săn mồi, khi gặp đối tượng hay con vật nó cần bắt làm mồi, loài mèo thường đứng từ xa cách con mồi khoảng chừng 5 đến 6 mét. Sau đó nó nằm bẹp hạ cơ thể xuống sát đất, mắt chăm chăm nhìn không nháy mắt đến đối tượng đồng thời bước tới con mồi cần săn rất nhẹ nhàng. Khi đến gần khoảng cách mà nó cảm thấy ăn chắc, loài mèo tung ra sức mạnh cuối cùng bằng cách đẩy mạnh 2 chân sau và đồng thời phóng mạnh toàn cơ thể tới phía trước và dùng móng sắc nhọn duỗi thẳng ra và cào lấy con mồi. Loài mèo thường bắt lấy mồi khá hiểm và độc đáo bằng cách duỗi móng ở hai bàn chân trước ra và túm lấy vào gáy đối tượng. Sau đó dùng miệng cắn lên đầu con mồi cho đến chết mới thả ra. Con người thường cho mèo ăn cá trộn với cơm. Đây là thứ thức ăn mà mèo thích vì nó thích mùi tanh của cá.
Để làm vệ sinh cho cơ thể, nó thường thè lưỡi ra và tiết nước bọt vào chân của nó rồi bôi lên mặt và toàn thân Loài mèo luôn tự làm lấy vệ sinh cho cơ thể nhiều lần trong ngày, thường là lúc nó mới ngủ dậy hay đi đâu đó về. Hành động đó đã trở thành thói quen thường thấy ở loài mèo ngay cả khi cơ thể của nó không có vết bẩn nào cả. Mèo cái có biểu hiện động dục đặc trưng khi chúng khoảng 2,3 - 3,2 kg, hoặc giữa 5 đến 9 tháng tuổi. Tuy nhiên, cũng có trường hợp mèo 4 tháng tuổi đã động dục và mang thai! Thêm nữa là, mèo lai giữa mèo lông dài và mèo lông ngắn thì quá trình động dục có thể đến sớm hơn mèo thuần chủng, và mèo được thả tự do thì động dục sớm hơn mèo được nuôi giữ trong nhà. Đến thời kỳ sinh sản, mèo cái thường đi tìm mèo đực. Trong thời gian này, mèo cái có bộ lông mới bóng mượt, có mùi và tiếng kêu đặc biệt để hấp dẫn mèo đực. Một con mèo cái có thể mang thai ngay khi nó thành thục - có thể ngay khi 4 tháng tuổi. Trong khi hoạt động sinh sản và mang thai phần lớn vào mùa xuân, thì mèo cái có thể mang thai vào bất kì thời gian nào trong năm, đặc biệt là ở khí hậu ôn hoà, ấm áp. Thời gian thai kì của mèo cái vào khoảng 56 - 71 ngày, trung bình kéo dài khoảng 67 ngày. Mèo con từ 1 tháng tuổi trở lên đã được mèo mẹ dạy các động tác săn bắt mồi như chạy, nhảy, leo trèo, rình và vồ mồi. Mèo 4 tháng tuổi có thể bắt được chuột, gián, thạch sùng... mèo thường sống đơn độc.
Mèo, nhất là mèo đen, được coi là “tiểu hổ” và được đánh giá như một loại thực phẩm bổ dưỡng và có thể dùng để chữa một sô bệnh. Thịt mèo được dùng trong y học cổ truyền với tên thuốc là mưu nhục. Xương mèo (mưu cốt) và mật mèo (mưu đởm) thường dùng là của mèo đen. Ngoài ra, xương đầu, nước tiểu và phổi mèo cũng được dùng làm thuốc. Thịt mèo vị ngọt, mặn, chua, tính ấm, không độc, có tác dụng tiêu thũng, chống lao lực, giải độc, giảm đau. Mật mèo đen vị đắng, tính hàn, có tác dụng giảm đau, chống co thắt. Xương mèo đen vị ngọt, tính ấm có tác dụng bổ dưỡng. Thịt mèo được dùng chữa bệnh báng bụng, lao, chóng mặt, trĩ mạn tính, mụn nhọt, ngày dùng 50 - 100 gam dưới dạng nấu chín ăn hoặc sấy khô tán bột, uống. Mật mèo đen ngâm rượu uống hằng ngày chữa bệnh hen suyễn, đau bụng kinh niên. Xương mèo đen ngâm rượu uống là thuốc bổ, giảm đau nhức, dùng thích hợp cho người cao tuổi. Xương đầu mèo đốt thành tro, tán nhỏ, mỗi lần uống 12 gam với rượu, chữa ho suyễn do đờm khí. Nước tiểu mèo rỏ vào tai sẽ làm cho đỉa hoặc sâu bọ bò ra ngoài. Cách lấy nước tiểu mèo như sau: Bắt mèo, giữ chặt 4 chân, lấy vỏ bưởi xát vào hậu môn hoặc gừng tươi xát vào lỗ mũi, mèo sẽ đái vọt ra, hứng lấy rồi rỏ vào tai. Các dân tộc ít người ở miền Bắc dùng thịt và dạ dày mèo rừng chữa cơ thể suy nhược, xanh xao, gầy yếu. Xương mèo rừng ngâm rượu uống chữa đau nhức gân xương. Ở Trung Quốc, mèo được sử dụng dưới những dạng thuốc rất đa dạng:
- Thịt mèo ninh nhừ, thêm ít muối và rượu, ăn trong ngày chữa loét dạ dày, hành tá tràng. Thịt mèo 100 gam thái nhỏ, hấp cách thủy với đẳng sâm 30 gam, long nhãn 15 gam, ăn cái, uống nước, chữa thần kinh suy nhược, xuất huyết dưới da do dị ứng.
- Chữa chứng gan thận hư nhược: Thịt mèo 100 gam nấu chín với khởi tử 25 gam, hoàng tinh 10 gam, long nhãn 8 gam, ăn cả cái lẫn nước.
- Chữa cam tẩu mã: Xương đầu mèo đen (1 cái) đốt tồn tính, tán bột, mỗi lần uống 10 - 15 gam với rượu.
Có rất nhiều các giống mèo khác nhau, một số không có lông hoặc không có đuôi và chúng tồn tại với rất nhiều màu lông khác nhau. Tại các nước phát triển người ta tạo ra rất nhiều giống mèo vừa đẹp, vừa lạ, lại thông minh và yêu chủ.
Mèo bắt chuột rất giỏi và nhờ đó hầu như không nhà nào ở nông thôn nước ta mà không nuôi mèo. Loại mèo bắt chuột giỏi nhất là Mèo mướp và Mèo tam thể. Nếu không có mèo thì loài chuột sinh sôi nẩy nở khắp thôn xóm. Chuột sinh đẻ rất nhanh chóng. Theo nhà động vật học người Anh Fames Rowell thì một chàng chuột đực và một nàng chuột cái ăn ở với nhau trong ba năm có thể sinh nở ra đến 269.762 cháu, chắt, chút, chít... Trung bình mỗi năm chúng sinh sản đến bốn lứa, mỗi lứa từ bốn đến mười chú nhóc. Dùng mèo săn chuột là an toàn hơn rất nhiều so với việc dùng các loại bả chuột. Nhiều nơi mèo đã chết hàng loạt vì ăn phải những con chuột đã dính bả chuột. Việc bắt trộm mèo để bán cho các quán Tiểu hổ là hành vi bất lương rất cần lên án nghiêm khắc và trừng trị đích đáng. Mèo luôn luôn là bạn thân thiết của mọi nhà nông chúng ta. Cần cho mèo ăn uống đủ chất và giữ vệ sinh cho mèo để tránh các bệnh truyền nhiễm.
* Bài viết do GS Nguyễn Lân Dũng gửi trực tiếp cho Nguyễn Xuân Diện-Blog

LẤY VĂN MÀ TÔ ĐẸP MỚI NÊN NGƯỜI

Lân Dũng thân mến!
Cả nước đang hào hứng bàn bạc việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 Khóa XI về mấy vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng. Công việc đầy khó khăn này cần rất nhiều tâm huyết của mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là của những đối tượng chính của cuộc vận động - các đảng viên có quyền chức cao. Họ cần gương mẫu. Nhiều người đã nói như vậy rồi. Mình góp một tiếng nói, một khía cạnh, dưới góc nhìn của văn hóa, của sự tôn vinh cái đẹp
Nếu Lân Dũng ưng thì nhờ đưa lên blogtiengviet.net để đông đảo bạn đọc tham khảo, giúp cho câu chuyện có thêm kênh lan tỏa.
Cảm ơn Lân Dũng nhé!
Ma Văn Kháng
HỌC TẬP NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 4 (KHÓA XI) VỀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG
LẤY VĂN MÀ TÔ ĐẸP MỚI NÊN NGƯỜI
Năm 2006, ngày 17 tháng 2, tại trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam số 9 Nguyễn Đình Chiểu, trong buổi học tập Nghị quyết Trung ương lần thứ 3 về chống tham nhũng, tôi ghi được ở trong sổ tay một câu nói sau đây: Kinh nghiệm ở nhiều nước cho thấy, muốn chống tham nhũng có kết quả thì cần làm cho mỗi nhân viên Nhà nước không muốn, không dám, không thể, không cần phải có hành vi bất lương ấy.
Ở đây, nhân dịp nghiên cứu Nghị quyết trung ương 4 khóa XI về những vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng Đảng, chỉ xin bàn về hai chữ “không muốn”. Nghĩa là nói đến cái dục vọng của con người và cái cách để không muốn sa vào những dục vọng tối tăm. Vì thực tình là do đã khốn khổ vì nó rồi, nên từ lâu con người đã tìm mọi cách để tiết chế, để tiêu trừ nó.
Vậy thì tại sao dục vọng lại làm khốn khổ người ta? Vâng, dục vọng, ham muốn chính là nguồn gốc của mọi đau khổ ở cõi đời này. Chứ đâu có phải căn nguyên của hạnh phúc. Vì, theo triết gia Đức Arthur Schopenhauer thì dục vọng, ham muốn gây ra đau khổ cho người ta là bởi ba lẽ sau: Một là, ham muốn nảy sinh vì cảm thấy thiếu thốn, nghĩa là nó nảy sinh từ chỗ vốn đã đau khổ; hai là, phần lớn các ham muốn đều không được thỏa mãn, nên thường dẫn đến đau khổ dữ dội; ba là, dù ham muốn có đạt được mục tiêu thì đó cũng không phải là thỏa mãn vĩnh viễn, mà chỉ là sự thỏa mãn tạm thời, chẳng khác nào cho kẻ đi ăn xin mẩu bánh mỳ để họ khỏi chết đói trong chốc lát thôi, nghĩa là sự đau khổ của họ còn phải kéo dài cho đến cả những ngày sau đó nữa. Nhận ra điều này, là một cuộc vận động của tư duy, một sự trầm tư triết học và sự tự vấn lương tâm, để biết đâu là lẽ phải, để biết xấu hổ vì biết đến hai chữ liêm sỉ. Từ trước đến nay, những kẻ làm việc vô nhân bất nghĩa, ăn cắp ăn trộm, bóp nặn dân lành, ức hiếp người yếu, dối trên lừa dưới, sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi, đều bị người đời gọi là bọn người vô liêm sỉ, không biết xấu hổ nhục nhã. Giáo sư Trần Đình Huỳnh viết: Liêm sỉ là một nét tinh hoa, cốt cách văn hóa dân tộc ta. Ngày nay, người có liêm sỉ là người biết xấu hổ khi mình không có công cán gì mà lại giàu sang ngất ngưởng, trong khi bao người khác lâm vào cảnh đói nghèo. Biết xấu hổ khi bóp nặn từng đồng bạc của lương dân. Biết xấu hổ khi sa vào vòng trụy lạc. Biết xấu hổ, biết là mình có lỗi, như Hồ Chủ tịch đã từng viết: “Nếu dân đói là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”.
Biết xấu hổ khi nhìn lại biết bao tấm gương trong sáng tươi đẹp của các bậc tiền nhân. Vĩ đại là tấm gương ngời sáng của Bác Hồ kính yêu. Lung linh bên Người là ánh sáng của bao anh hùng tiên liệt, danh nhân hợp thành cả một vòm trời tinh tú, sáng soi muôn dặm đường. Bạn tôi là nhà văn Bùi Bình Thi. Anh có người bác ruột là cụ Bùi Bằng Đoàn, nguyên Thượng thư Bộ Hình triều đình nhà Nguyễn. Cụ sinh năm 1886, quê ở làng Liên Bật, huyện Ứng Hòa, Hà Đông, Hà Nội. Năm 1911 cụ tốt nghiệp trường Hậu bổ. Trải qua việc làm thông dịch viên, rồi chuyển sang ngạch quan lại, từ phủ, huyện lên tỉnh. Đến năm 1933, cụ được cử làm Thượng thư Bộ Hình, tức Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Làm Bộ trưởng, cụ Bùi Bằng Đoàn nổi tiếng về trình độ học vấn cao, chuyên sâu về pháp luật và đức liêm chính. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, cụ được nhân dân bầu vào Quốc hội và là Chủ tịch Quốc hội của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Theo sắc lệnh số 80/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 31 tháng 12 năm 1946, cụ được cử làm Thanh tra đặc biệt của Chính phủ. Trong thời kỳ kháng chiến ở Việt Bắc, cụ thường làm thơ xướng họa với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Năm 1955, cụ mất, tang lễ của cụ được cử hành theo nghi lễ quốc tang. Nhà văn Bùi Bình Thi kể cho tôi nghe mấy chi tiết về cuộc đời cụ: Người kéo xe tay cho cụ khi cụ làm Thượng thư vì cần mẫn, chịu khó nên được thăng lên chức cai. Nhân dịp đó anh mang biếu cụ một chùm vải. Nhận chùm vải, cụ bẻ một nhánh, rồi trả lại anh. Cụ nói: “Từng này là đủ rồi. Còn đây, mang về cho anh em ăn”. Khi về hưu, tài sản của cụ đáng giá chỉ có bốn cái áo the và một ít bạc vụn. Phục vụ cụ chỉ có một người chuyên nghề làm bún. Nguyên là cụ rất thích ăn bún nóng. Khi vào làm quan ở Huế, cụ mời anh nghệ nhân làm bún này ở Hà Nội đi theo. Và lương bổng người này hoàn toàn là do cá nhân cụ chu cấp.
Cũng là A.Schopenhauer triết gia Đức khi ông cho rằng, cách giải thoát sang trọng khỏi sự suy thoái là sự suy tư triết học, sự thăng hoa về mặt đạo đức, sự sáng tạo, thưởng thức cái đẹp. Gần đây đọc bài của nhà văn hóa lớn Nguyễn Khắc Viện, tôi ghi được một câu tâm đắc sau đây: Có tự kiềm chế, khép mình vào lễ nghĩa mới nên người. Có mở rộng tầm nhìn, lấy văn mà tô điểm mới nên người! Thế đó! Văn hóa, cái đẹp là nơi cứu rỗi con người. Hãy ngắm nhìn cái đẹp, hãy thưởng thức cái đẹp và nâng mình lên cùng cái đẹp. Ý tưởng này nhiều người đã nói rồi. Trong bài nói của mình tại Hội nghị Trung ương 4 vừa rồi, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nói đại ý: Không phải chờ đợi, cũng chẳng tốn kém gì, có thể làm ngay cuộc vận động, có lẽ cũng là ở cái ý này. Đó cũng là một cách nhìn thẳng vào sự thật của tấm thảm kịch, vật lộn với nó với niềm vui chiến thắng!
Ma Văn Kháng
Theo Blog của GS Lân Dũng, 16/3/2012

CÁCH MẠNG, NHIỆT TÌNH, LÒNG TỰ TRỌNG VÀ SỰ XẤU HỔ

Thân gửi anh Lân Dũng!
Tôi gửi anh bài viết này, mong anh đưa lên blog của anh để nhiều bạn bè tham khảo và cho nhận xét.
Xin cảm ơn anh,
Trần Đình Huỳnh
CÁCH MẠNG, NHIỆT TÌNH, LÒNG TỰ TRỌNG VÀ SỰ XẤU HỔ
PGS, TS Trần Đình Huỳnh
Nguyên Viện trưởng Viện Xây dựng Đảng
Giáo sư Mi-chen Va-de, nhà triết học, thành viên Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp, trong một công trình nghiên cứu có tầm cỡ về C.Mác, xuất bản ở Paris năm 1992 đã nêu ra một câu hỏi: “Ông C.Mác lùi xa chúng ta, thử hỏi một tác phẩm đã bắt rễ từ những hiểu biết và những hiện thực của một thời đã khác, liệu ngày nay có thể mang lại “ý nghĩa” gì cho chúng ta?”.
Rồi ông viết tiếp: “những gì C.Mác viết ra không phải là dễ đọc, vì nó đòi hỏi một sự hiểu biết về một bối cảnh nói chung đã biến mất: Nước Đức, Anh và Pháp cách đây 100 hay 150 năm. Có thể nói là một quá khứ đã lùi xa”. Ông còn mượn lời một học giả khác mà viết rằng: “Nhận thức về cái có thật là một ánh sáng luôn luôn phóng ra đâu đó từ bóng tối, không bao giờ tức thời và đầy đủ... Những phát hiện cái có thật bao giờ cũng trở đi, trở lại... Cái thật luôn luôn là những gì người ta phải nghĩ”. Rồi ông đưa ra một nhận xét xác đáng: “Mặc dù sự phong phú của những bản thuyết trình, của những công trình lý luận và lịch sử dành cho tác phẩm của C.Mác, nhưng tác phẩm của C.Mác vẫn luôn luôn cất giấu những bí ẩn và làm chúng ta ngạc nhiên”. (1)
Đúng vậy! C.Mác là nhà tư tưởng vĩ đại của nhân loại, để hiểu ông thì phải ngẫm nghĩ và trở đi, trở lại.
1. Cách mạng
Một điều hiển nhiên là lịch sử phát triển của loài người từ trước tới nay đều tiến lên thông qua các cuộc cách mạng. Theo C.Mác, để hiểu được khái niệm “cách mạng” thì chúng ta phải “đứng trên quan điểm chỉnh thể” mà thấy rằng, dù cuộc cách mạng ấy chỉ diễn ra ở một địa phương, một lĩnh vực, “thậm chí cả trong trường hợp nó chỉ diễn ra trong một khu công nghiệp thôi” thì ý nghĩa chân chính và đích thực của nó cũng đều “là sự phản kháng của con người chống lại cuộc sống mất nhân tính”; là sự phản kháng của cộng đồng chân chính chống lại sự bất công, tàn bạo đối với con người, chống lại những gì hạ thấp phẩm giá của con người. C.Mác khẳng định: “Mỗi cuộc cách mạng đều phá hủy xã hội cũ và vì thế nó mang tính chất xã hội. Mỗi cuộc cách mạng đều lật đổ chính quyền cũ và bởi vậy nó có tính cách chính trị”. (2)
Cách mạng chính trị dù vô cùng quan trọng nhưng mới chỉ lật đổ chính quyền cũ của giai cấp này, thiết lập chính quyền mới của giai cấp khác. Việc lật đổ xã hội cũ, thiết lập xã hội mới theo đường lối của giai cấp vô sản, tức là làm cuộc cách mạng XHCN thì theo C.Mác, sau này cả V.I.Lênin và Hồ Chí Minh, việc giành được chính quyền mới chỉ là bước đầu trên con đường muôn dặm để chống lại cuộc sống mất nhân tính, mà trước tiên là chống lại cái mất nhân tính (hay nói như Hồ Chí Minh là chống lại cái ác) từ trong bản thân mình. Điều đó có nghĩa là đảng của giai cấp vô sản sẽ đứng trước những trở lực mới, nhiều khi lại là những chướng ngại từ bên trong, thậm chí là kẻ thù ở bên trong, tệ quan liêu và nạn tham nhũng. C.Mác đã viết rằng giai cấp nào vừa giành được chính quyền “cũng đều dựng lên những chướng ngại của chính mình trước khi kịp vượt qua những chướng ngại trước mặt mình, cũng đều biểu lộ cái bản chất nhẫn tâm của mình trước khi biểu lộ cái bản chất độ lượng của mình” (3). Lời dạy này của C.Mác đã giúp ta hiểu rõ hơn câu nói ngắn gọn mà thâm thúy của Hồ Chí Minh rằng: Muốn cách mạng, mạng phải cách, muốn làm cách mạng thì trước hết phải cải tạo tâm tính của bản thân mình. “Những chướng ngại của chính mình” rất dễ làm ta bị dừng bước, thậm chí thất bại trước những chướng ngại trước mặt và do đấy sẽ làm cho “mỗi lĩnh vực của xã hội công dân cũng đều nếm mùi thất bại trước khi kịp ăn mừng thắng lợi của mình” (4). Điều này đã được Nghị quyết Đại hội VI của Đảng minh chứng bằng tổng kết tình hình đất nước ta sau 10 năm giành thắng lợi vĩ đại giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước: Những “chướng ngại của chính mình” là do “sai lầm trong việc xác định mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, cải tạo XHCN và quản lý kinh tế... và do tư tưởng chỉ đạo chủ quan, nóng vội, muốn bỏ qua những bước đi cần thiết. Trong 5 năm (1976 - 1980) trên thực tế chúng ta đã chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa khi chưa đủ tiền đề cần thiết, chậm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đã lỗi thời”. Kế hoạch 5 năm (1980 - 1986) vẫn “chưa kiên quyết khắc phục nóng vội và bảo thủ thể hiện chủ yếu trong các chủ trương về cơ cấu kinh tế, cải tạo XHCN và cơ chế quản lý kinh tế” (5). Chính vì thế mà việc “chống lại cuộc sống mất nhân tính” không những chưa làm được bao nhiêu mà nghèo đói, thiếu thốn và thất nghiệp lại rất nặng nề, “hiện tượng tiêu cực trong xã hội phát triển. Công bằng xã hội bị vi phạm, pháp luật kỷ cương không nghiêm. Những hành vi lộng quyền, tham nhũng của một số cán bộ và nhân viên nhà nước, những hoạt động của bọn làm ăn phi pháp chưa bị trừng trị nghiêm khắc và kịp thời... làm giảm lòng tin của quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Nhà nước”. (6)
Nhờ đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào Sự thật, thấy rõ những “chướng ngại của chính mình”, liên tục tìm cách khắc phục mà trên 20 năm đổi mới, rất nhiều “chướng ngại trước mặt mình” đã được vượt qua, những thắng lợi giành được thật là to lớn!
Bài học rút ra từ lời dạy của C.Mác và kinh nghiệm thực tiễn của Đảng ta là: Sau một chặng đường đấu tranh, giành được thắng lợi (dù vĩ đại đến đâu) thì chủ thể của những thành tựu ấy bao giờ cũng lại đứng trước những chướng ngại mới của chính mình và rất nhiều những chướng ngại mới trước mặt. Sự thách đố của lịch sử là ở chỗ chủ thể ấy có biết “thắng không kiêu, bại không nản” mà nhận ra và có khả năng vượt qua được những chướng ngại của chính mình hay không? Nếu không biết vượt qua được chính mình thì nói theo cách nói của V.I.Lênin, mỗi bước đi lại gặp thêm khốn đốn.
Vượt qua chướng ngại của chính mình là điều tiên quyết để vượt qua chướng ngại trước mặt.
Lịch sử phát triển theo đường xoáy ốc, nó sẽ lặp lại ở một trình độ cao hơn, tinh vi và phức tạp hơn. Những chướng ngại mới lại xuất hiện trên suốt lộ trình muôn dặm để đi tới thắng lợi cuối cùng và cái quyết định vẫn là trước hết phải vượt qua chướng ngại của chính mình.
Sau hơn 20 năm đổi mới, cùng với những thành tựu to lớn là những “chướng ngại của chính mình” mới, những trở lực, nguy cơ và thách thức mà Đảng tiên phong đã rất sáng suốt nhận ra rằng: “...tư duy của Đảng trên một số lĩnh vực chậm đổi mới; một số vấn đề ở tầm quan điểm, chủ trương lớn chậm làm rõ nên chưa đạt được sự thống nhất cao về nhận thức và thiếu dứt khoát trong hoạch định chính sách, chỉ đạo điều hành. Sự chỉ đạo tổ chức thực hiện chưa tốt, nhất là trong ba lĩnh vực: Xây dựng đồng bộ thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, tạo bước chuyển mạnh về phát triển nguồn nhân lực; đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị...” (7). Càng nhận rõ những “chướng ngại của chính mình” hơn khi Đảng tự nghiêm khắc chỉ ra rằng: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ, công chức diễn ra nghiêm trọng. Nhiều tổ chức cơ sở thiếu sức chiến đấu và không đủ năng lực giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh” (8). Chính cơ quan lãnh đạo cao nhất của toàn Đảng đã nhất trí ghi nhận rõ những chướng ngại đó và cũng chính những người có trách nhiệm cao nhất đã công khai thừa nhận: “Trước hết thuộc về trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương, trực tiếp là Bộ Chính trị”. (9)
Những chướng ngại trước mắt không nhỏ và còn nhiều, nhưng chúng ta tin tưởng, như chúng ta đã từng tin tưởng, rằng: Không chướng ngại trước mặt nào mà những người cộng sản chân chính không thể vượt qua bởi họ đã biết nhận ra chướng ngại của chính mình. Vấn đề là ở chỗ biết đoàn kết và dũng cảm vượt qua.
2. Nhiệt tình
Nhận ra chính mình, tự biết mình là cực kỳ quan trọng nhưng biết rồi thì phải dũng cảm và hăng hái trong hành động. Muốn vậy, bất cứ ai cũng phải có nhiệt tình cách mạng. Nhiệt tình tựa như ngọn lửa bùng cháy, là nguyên động lực của tất cả.
Ở đây có vấn đề quan hệ giữa lý trí và tình cảm. Nói đến lý trí là nói tới sự hiểu biết, đến nắm vững chân lý khoa học, đến lý tưởng, do đó con người có tự do trong hành động sáng tạo. Lý trí và tình cảm hòa quyện với nhau trở thành đời sống lý tưởng của con người, thành niềm tin sắt son của con người, nó làm cho con người có tình yêu thương lớn, sự dũng cảm lớn và sự trung thành; nó nâng đỡ tinh thần con người, giúp con người vượt qua mọi cám dỗ của tiền bạc, danh vọng... để sống cao thượng và tôn trọng phẩm giá con người. Tất cả những cái đó làm cho con người luôn luôn phấn đấu, luôn học hỏi và say mê sáng tạo. Chỉ có như vậy mới có thể xứng đáng đứng trong hàng ngũ của những người đấu tranh chống lại những cái mất nhân tính như C.Mác từng nói. Ông đã có những trang viết với thái độ quyết liệt để “đánh” vào những cái lỗi thời, hủ bại, những sự đê tiện thấp hèn, những cái ở dưới tầm nhân tính: “Nhất định phải đánh. Những trật tự ấy thấp hơn tầm lịch sử, thấp hơn mọi sự phê phán nhưng vẫn là đối tượng của sự phê phán... Trong cuộc đấu tranh chống những trật tự đó, sự phê phán không phải là sự hăng say của lý tính mà là lý tính của sự hăng say”. (10)
Như vậy, rõ ràng là cách mạng, đấu tranh, phê phán cái lỗi thời cũng như việc đề ra các quyết sách, các chủ trương và biện pháp để xây dựng cái mới, cái tốt đẹp đòi hỏi phải kiên quyết, phải hăng say, nhiệt tình nhưng không thể là sự hăng say mù quáng, sự hăng say phải được chỉ dẫn bởi sự hiểu biết, có suy xét, cân nhắc, có kế hoạch, có bước đi, có kiểm tra. Đó là “lý tính của sự hăng say”, là sự hăng say thông minh, một sự thống nhất giữa tình cảm cách mạng và lý tưởng cách mạng, giữa lòng nhiệt tình của trái tim nóng và sự trầm tĩnh của trí tuệ. Thực tiễn đã cho ta những bài học về sự bồng bột, hăng hái, ấu trĩ (phá hủy lăng tẩm, đình chùa, di tích văn hóa... để chứng tỏ mình là người “vô thần”, người tích cực chống mê tín dị đoan để xây dựng “đời sống mới”. Rồi lại nhiệt tình “phục hồi” tất cả, không biết loại đi cái hủ tục, lỗi thời, đẩy con người vào u mê. Biết bao dự án, công trình đã không có sự tính toán, cân nhắc, lắng nghe ý kiến của những nhà chuyên môn và nhân dân nên đã gây thiệt hại lớn tiền của, công sức và tổn hại không nhỏ uy tín của cơ quan lãnh đạo).
Không thể tự huyễn hoặc về những cái gì mình đã có và đang có, không thể tự mãn về sự hiểu biết có giới hạn của mỗi người mà phải tỉnh táo nhận ra những vụng về, sai sót đã và đang mắc phải. Hơn bất cứ lúc nào, lời chỉ dẫn sau đây của C.Mác vẫn đang có sức cảnh báo, hướng dẫn chúng ta khi gia nhập WTO, bước vào nền kinh tế thị trường thế giới đầy biến động khắc nghiệt để tránh bớt những sai lầm, vấp váp mà các nước đi trước ta đã từng phải trả giá: “Chúng ta, tựa như một anh lính mới vụng về đang lặp lại những bài tập cũ, cho đến nay vẫn coi nhiệm vụ của mình chỉ là lặp lại những cái đã nhàm”. Và, để khắc phục tình trạng đó, C.Mác đã lưu ý tới một triết lý cho sự phát triển: “Chúng ta là những người cùng thời về mặt triết học của thế kỷ hiện nay, chứ không phải là cùng thời về mặt lịch sử của thế kỷ hiện nay” (11). Chỉ có một tầm nhìn như vậy, chúng ta mới không mắc phải sai lầm là lặp lại bước đi trong lịch sử của những người khác một cách vụng về.
3. Lòng tự trọng và sự xấu hổ
“Tự trọng” và “xấu hổ” là hai khái niệm gần như đồng nghĩa. Nó đều là loại tự ý thức về nhân cách của mình, về danh dự, phẩm giá của mình. Nó là cái tiềm ẩn ở trong mỗi con người cũng như mỗi dân tộc. Tự trọng làm cho người ta biết giữ gìn, trân trọng và tự biết những giá trị tốt đẹp đích thực của mình. Tự trọng bao giờ cũng đi liền với sự khiêm nhường, có chừng mực, biết đánh giá đúng mình và đúng người, biết nhận ra những cái lố bịch, xấu xa, hèn kém của bản thân, làm cho người ta tự hào đúng mực về cái mình có, tự hổ thẹn về sự thấp hèn, yếu kém của chính mình. Và chính vì thế mà từ sâu thẳm trong tâm hồn toát ra một sức mạnh, một ý chí vươn lên. Tự trọng khác tự hào. Tự hào thể hiện ở sự hãnh diện, mãn nguyện về cái mình đã làm được, cái mình đang có. Tự hào đúng mực đòi hỏi một sự tự trọng; nếu tự hào quá mức, hoặc không đúng thì lại là sự hợm hĩnh, phô trương, kiêu ngạo và lố bịch, lại là tự hạ thấp mình mà không biết xấu hổ. C.Mác viết: “...tính tự cao, tự đại của tư duy... bao giờ cũng đi song song với sự phiến diện và tính tự hạ mình của hiện thực” (12). Một con người cũng như một dân tộc cần phải biết tự hào và tự trọng, lại càng cần đề phòng “thừa lòng tự hào” (tự hào quá mức, không đúng) và “thiếu lòng tự trọng”. Vì cả hai đều là kệch cỡm, đáng xấu hổ.
Theo C.Mác, làm cách mạng phải biết tự hào, tự trọng và xấu hổ. Trong thư gửi Ru-giơ, ông đã viết về tình trạng nước Đức năm 1843 như sau: “...Nước Đức đã lún sâu hơn. Bạn hãy tin rằng kẻ ít cảm thấy tự hào dân tộc nhất cũng không thể không lấy đó làm điều quốc sỉ... Đây là một Sự thật ít ra cũng phơi trần trước mắt chúng ta sự trống rỗng của chủ nghĩa yêu nước của chúng ta, cái thân hình quái dị của chế độ nhà nước chúng ta và buộc chúng ta phải che mặt lại vì xấu hổ...”. (13)
Tổ quốc ta, nhân dân ta vì có lòng tự hào dân tộc, tự trọng về danh dự và phẩm giá của mình và biết xấu hổ vì bị mất nước, bị làm nô lệ, bị nghèo nàn, lạc hậu mà vùng đứng lên làm cách mạng - cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng XHCN. C.Mác viết: “...Xấu hổ là một loại cách mạng... xấu hổ là một loại nổi giận nhưng chỉ hướng vào bên trong. Và nếu như cả một dân tộc thực sự cảm thấy xấu hổ thì nó sẽ giống như một con sư tử thu mình lại để chuẩn bị nhảy”. (14)
Chúng ta đã biết “thu mình lại” và cũng đã biết “vùng dậy”. Chúng ta đã “nhảy” và sẽ còn có những bước “nhảy” mạnh hơn, tiến xa hơn để mau tới đích: Dân tộc ta thật giàu, nước ta thật mạnh, xã hội ta thật công bằng, dân chủ, văn minh, để tiến tới đài vinh quang, sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ đã dạy, nếu như mỗi người chúng ta đều biết xấu hổ khi làm những việc mất nhân tính như tham nhũng, lãng phí, quan liêu, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân...
Thiết nghĩ, đó là cách chúng ta tỏ lòng thành kính, biết ơn C.Mác, người thầy vĩ đại của nhân loại cần lao.
Tháng 5 năm 2008

Chú thích:
(1) Những đoạn trích trên, ở trong tác phẩm “C.Mác - nhà tư tưởng của cái có thể”, Viện Thông tin KHXH, H.1996, tập 1, tr.1 và 2
(2) C.Mác - Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 1, NXB Sự thật, H.1978, tr.585-586
(3,4) Sđd, tr.559
(5) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, NXB Sự thật, H.1987, tr.19-20
(6) Sđd, tr.18
(7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, NXB.CTQG, H.2006, tr.15-16
(8) Sđd, tr.65
(9) Sđd, tr.16
(10) C.Mác - Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 1, NXB Sự thật, H.1978, tr.546
(11) Sđd, tr.550-551
(12) Sđd, tr.553
(13) Sđd, tr.488
(14) Sđd, tr.367
(Dẫn theo Blog của GS Nguyễn Lân Dũng)